Đối Thoại Của Thánh Catarina Sienna: Chương 2. Ơn Trở Nên Giống Chúa Kitô P1

ĐỐI THOẠI CỦA THÁNH CATARINA SIENNA: CHƯƠNG 2. ƠN TRỞ NÊN GIỐNG CHÚA KITÔ P1

Ơn trở nên giống Chúa Kitô

Sự dại dột của những kẻ qua sông dưới gầm cầu, Thiên Chúa gọi họ là những cây chết, là thứ cây đâm rễ vào bốn nết xấu hàng đầu.

  1. Với những lời bộc lộ tâm tình trên đây (số 30), linh hồn này cảm nhận đôi chút niềm vui làm nở lòng nở dạ trong tình thương xót của Thiên Chúa, nó khiêm tốn chờ đợi Chúa thực hiện lời Ngài đã hứa. Và Thiên Chúa đã nói với nó như sau: con rất yêu dấu của Cha, con đã nói trước mặt Cha về lòng thương xót của Cha, bởi vì Cha đã cho con hưởng nếm và nhìn thấy lòng thương xót đó khi Cha nói với con: “Cha muốn con dâng lên Cha những lời kinh nguyện cho các kẻ tội lỗi này”. Nhưng con nên biết, không thể có sự so sánh nào, lòng thương xót của Cha đối với các con thì lớn hơn con nhìn thấy rất nhiều. Bởi vì sự nhìn xem của con thì hữu hạn và bất toàn, còn lòng thương xót của Cha thì toàn hảo và vô biên. Cho nên giữa sự nhận định của con và thực tế, có một khoảng cách như giữa cái hữu hạn và vô hạn.

Cha muốn con nếm thử lòng thương xót của Cha và thấy phẩm giá của con người, như trên đây Cha đã tỏ bày cho con, là để con hiểu tất cả sự độc ác và bất xứng của các kẻ tội lỗi đã đi theo con đường dưới gầm cầu. Con hãy mở mắt trí tuệ ra, và nhìn xem những kẻ quyết tâm chết đuối trong dòng sông thế gian: chúng rơi xuống vực thẳm do tội lỗi của chúng.

Trước hết, chúng đã trở nên bệnh hoạn, vì chúng đã cưu mang tội trọng trong tâm hồn, rồi từ đó thể hiện trong hành động, chúng đánh mất sự sống của ân sủng. Ví như người chết không còn cảm giác và không thể tự mình cử động, trừ khi được người khác nâng lên hoặc khiêng đi; cũng vậy, các kẻ chết đuối trong con sông tình yêu vô độ của thế gian, chúng chết vì mất ân sủng. Và bởi vì chúng chết, nên trí nhớ của chúng không còn gợi lại được những kỷ niệm về lòng thương xót của Cha. Mắt của tâm trí chúng không còn nhìn xem, không nhận ra chân lý của Cha nữa; cảm giác cũng chết, và trí tuệ thì buông theo sự chết của tình yêu xác thịt. Ý chí của chúng cũng đã chết đối với ý muốn của Cha, vì lòng chúng chỉ mến yêu những sự vật chết. Khi ba tài năng này đã chết, tất cả mọi hành vi của chúng, bên ngoài cũng như bên trong, đều chết mất ân sủng. Cho nên chúng không thể tự bảo vệ chống lại các kẻ thù của chúng, cũng như không thể tự cứu lấy mình, trừ khi Cha tra tay cứu vớt.

Tuy nhiên, những kẻ chết này vẫn còn nắm giữ ý chí tự do, cho nên bao lâu chúng còn sống trong thân xác, chúng có thể xin ơn trợ giúp của Cha, chúng có thể nhận được ơn trợ giúp này, nhưng chúng không thể tự mình làm được điều gì. Tự chúng chỉ là sự bất lực hoàn toàn; chúng đã muốn thống trị cả thế giới, nhưng chúng đang bị thống trị bởi tội lỗi là cái hư vô. Tội lỗi không là cái gì cả, mà chúng lại làm tôi tớ và nô lệ cho tội lỗi. Cha đã tác thành chúng thành những cây tình thương nhờ sự sống của ân sủng, mà chúng đã nhận được nơi bí tích Thánh tẩy, nhưng chúng đã trở thành những cây chết, vì sự thật chúng đã chết.

Con có biết rễ của những cây này nằm ở đâu không? Ở trong sự đưa mình lên do tính kiêu ngạo, được nuôi dưỡng bởi lòng ích kỷ bởi tính dục. Xương tuỷ của nó là bất nhẫn, muốn trốn tránh mọi vất vả khổ đau, và nó có một nhánh là sự mù quáng. Đó là bốn nết xấu giết chết linh hồn của những kẻ mà cha gọi là cây chết, vì nó không múc lấy sự sống của ân sủng. Ở trong thân cây này có sinh sống con sâu của lương tâm, nhưng con người ít cảm thấy nó, bao lâu con người còn sống trong tội trọng, nó bị mù quáng bởi lòng tự ái. Những trái của cây này là trái chết người, vì chúng rút nhựa sống cho chúng từ rễ kiêu ngạo.

TRA CỨU THẦN SỐ HỌC Đóng Xem Đường Đời, Sự Nghiệp, Tình Duyên, Vận Mệnh, Các Năm Đỉnh Cao Cuộc Đời...
(*) Họ và tên của bạn:
(*) Ngày tháng năm sinh:
 

Khoa học khám phá bản thân qua các con số - Pythagoras (Pitago)

Linh hồn khốn nạn đó rất vô ơn bạc nghĩa, đó là căn nguyên mọi sự dữ. Nếu như linh hồn đó còn phần nào nhớ đến những ân huệ của Cha, chắc chắn nó nhận biết Cha, nếu như nó nhận biết Cha, thì nó cũng sẽ nhận biết chính mình nó, và như vậy nó sẽ ở trong tình thương của Cha. Nhưng nó tối tăm cố bám lấy nước sông, mà không biết nước chảy xiết, không chờ được nó

Những trái của cây này cũng đa dạng như các tội lỗi, và trước hết là tội xác thịt.

  1. Những trái cây ăn chết người này cũng đa dạng như các tội lỗi. Có những trái dùng làm thực phẩm cho súc vật, có những tội người ta phạm khi lạm dụng tâm hồn hay thân xác, nó lăn lộn trong sình lầy xác thịt, như những con heo trong đống bùn. Hỡi linh hồn đần độn, phẩm giá của mi ở đâu? Mi đã được tạo thành để làm chị em với các Thiên thần, vậy mà mi đã trở thành một thú vật thô tục! Những kẻ tội lỗi này đã rơi xuống chỗ hèn hạ đến nỗi không những Cha, là Đấng Thanh Khiết vô cùng, không chịu nổi, ngay cả quỷ dữ mà chúng đã trở thành bạn hữu và tôi tớ, cũng không thể nhìn xem chúng làm những điều tục tĩu như vậy, mà không ghê tởm.

Không có tội nào ghê tởm hơn và huỷ hoại ánh sáng của trí tuệ bằng thứ tội này. Các nhà hiền triết, không nhờ ánh sáng đức tin vì họ không có, chỉ nhờ ánh sáng của bản tính loài người mà thôi, cũng biết được thứ tội ô uế này làm mờ ám trí tuệ, nên họ giữ mình thanh tịnh để nghiên cứu tốt hơn. Họ từ bỏ sự giàu có, là những thứ lo lắng về tiền bạc, là điều làm bận tâm họ. Đó là điều người Kitô hữu ngu xuẩn và giả dối đã không làm; chúng đã đánh mất ân sủng.

Về tính hà tiện keo kiệt và những điều xấu bởi đó mà ra.

  1. Một số tội nhân khác sản sinh ra những hoa trái bằng đất. Đó là những kẻ tham lam và hà tiện. Chúng giống như loài chuột chũi, chỉ ăn đất cho đến chết. Khi giờ chết đến, chúng thấy quanh mình không có một sự trợ giúp nào hết. Với tính hà tiện, chúng làm mất giá trị sự quảng đại phong phú của Cha, chúng bán cho tha nhân thời giờ, là thứ chỉ thuộc về Cha. Đó là những kẻ cho vay mượn nặng lãi: họ áp bức và cướp của tha nhân, bởi vì trí nhớ của chúng không lưu giữ những kỷ niệm về lòng thương xót của Cha. Nếu chúng nhớ, chúng đã không độc ác như thế đối với bản thân chúng và đối với tha nhân, nhưng chúng sẽ cảm thương và thương xót bản thân chúng bằng cách thực thi các nhân đức, và sẽ thương xót tha nhân bằng những việc lành bác ái. Ôi, biết bao điều tai ác do thứ tội đáng nguyền rủa này mà ra! Nào là sát nhân, nào là trộm cướp, gian lận, lời lãi bất chính, những nhát dao đâm nhau, những điều bất công! Thứ tội keo kiệt này giết chết linh hồn, khiến nó trở thành nô lệ của tiền bạc, không còn lo giữ các giới răn của Cha nữa. Người hà tiện không thương yêu ai hết, trừ khi có lợi lộc đem lại.

Nết xấu này phát sinh từ tính kiêu ngạo và những phụng dưỡng tính kiêu ngạo là mẹ nó. Hai nết xấu mẹ con này luôn đi với nhau. Tính hà tiện keo kiệt thì thích phô trương, là điều gắn liền với tính kiêu căng chuyên đánh giá cao về mình, khiến cả hai mỗi ngày thêm xấu xa hơn. Đó là thứ lửa luôn toả ra thứ khói hư danh, thầm làm thoả mãn trái tim con người hãnh diện về những thứ không thuộc về mình. Đồng thời, nó là một thân cây sinh ra nhiều nhánh, mà nhánh lớn nhất là ham muốn được kính trọng, muốn được hơn người. Dưới sự chi phối của tham vọng này, tâm hồn không còn chân thành và quảng đại nữa, và trở nên giả hình và dối trá. Lưỡi thì nói một đàng, lòng trí lại nghĩ một ngả, lưỡi che giấu sự thật và nói điều điêu ngoa, theo hướng có lợi. Tật xấu này còn sinh ra tính ghen tuông: con sâu này không ngừng rúc rỉa tâm trí, vì không hề được no thoả bởi những điều tốt lành của bản thân, hay của tha nhân.

Trong sự thấp hèn như vậy, làm sao những kẻ độc ác này có thể bớt một phần tiền của, để giúp đỡ người nghèo, bởi vì chúng đang muốn lấy trộm của cải người khác? Làm sao chúng có thể cứu linh hồn mình ra khỏi chốn đê hèn này, bởi vì chính chúng đang xô đẩy linh hồn vào đó. Đôi khi chúng trở thành vô nhân đạo, đến nỗi không còn nhìn đến con cái chúng và cha mẹ chúng, khi chúng để họ trong cảnh bần cùng. Tuy nhiên, lòng thương xót Cha vẫn chịu đựng chúng: Cha không truyền cho trái đất rẽ ra chôn vùi chúng, Cha cư xử như thế, để chúng nhận biết tội lỗi của mình. Làm sao chúng có thể hy sinh mạng sống vì ơn cứu độ các linh hồn, khi chỉ chia sẻ một phần tiền bạc thôi, chúng cũng từ chối? Làm sao chúng có thể yêu thương anh em mình, vì trái tim chúng còn đang bị dày vò bởi sự ghen tuông chính anh em mình.

Ôi, những nết xấu khốn nạn đang muốn kéo trời xanh thiên đàng xuống đất! Thật vậy, Cha gọi là mảnh trời xanh, Cha đã tạo nên linh hồn như mảnh trời xanh, nơi ân sủng của Cha hoạt động, nơi Cha ẩn mình và yêu thích cư ngụ vì tình thương. Nhưng linh hồn đã lìa xa Cha như gái ngoại tình, vì nó yêu mình, yêu mến vật thụ tạo và các loài thụ tạo khác hơn yêu mến Cha. Nó tự coi mình là Đức Chúa của nó, và không ngừng làm khổ Cha bằng tội lỗi đủ thứ và rất nhiều. Nó sống như thế, là vì nó đã quên đi hồng ân của Máu Thánh Con Cha, đã đổ ra với biết bao tình yêu thương.

Về những kẻ có quyền thế, và về những bất công của họ.

  1. Có những kẻ lên mặt kiêu hãnh, vì có quyền thế trong Khi thi hành chức quyền, họ là những kẻ đứng đầu tội bất chính: bất chính đối với Cha là Thiên Chúa, bất chính đối với tha nhân, bất chính đối với bản thân họ. Họ bất công bất chính đối với bản thân, vì họ không chu toàn bổn phận đối với bản thân, không làm cho mình trở thành con người nhân đức. Bất công bất chính đối với Cha, họ có bổn phận tôn vinh và ca tụng Danh Thánh Cha, nhưng họ từ chối không thi hành bổn phận này. Như những tên trộm cắp, họ lấy đi những gì thuộc về Cha để đem cho tính dục và các giác quan của họ là những thứ đáng lý ra chỉ là tôi tớ của họ. Họ bất công bất chính đối với Cha và đối với bản thân họ, vì họ mù quáng và ngu xuẩn đến nỗi không nhận ra Cha ở trong họ, vì họ quá yêu chiều xác thịt mình.

Những người Do Thái và những luật sĩ đã hành động như thế, vì mù quáng bởi tự ái và ghen tuông, nên họ đã phủ nhận Con Một của Cha, họ đã không nhận biết Đấng Chân Lý vĩnh cửu đã đến ở giữa họ, như Ngài đã nói: “Nước Thiên Chúa ở giữa anh em” (Lc 17:21). Tại sao họ không nhận biết Ngài? Bởi vì, như Cha đã nói, họ đã mất ánh sáng của lý trí, nên cũng không đón nhận và tôn vinh Cha, và Đấng là một với Cha. Trong sự mù quáng này, họ đã bất công khi bách hại và sỉ nhục Con Cha cho đến cái chết trên Thánh giá. Cũng một cách ấy, những người quyền thế này đắc tội bất công đối với Cha và đối với bản thân họ. Họ cũng bất công đối với tha nhân, khi đem bán xương máu các kẻ dưới quyền họ và những ai rơi vào tay họ.

Vì những lầm lỗi này và những lầm lỗi khác, người ta để mình đi tới những phán đoán sai lầm.

  1. Do những nết xấu này và những nết xấu khác nữa, chúng sa vào những phán đoán sai lầm, như Cha sẽ giải thích cho con sau này. Chẳng hạn chúng vấp phạm vì những công việc của Cha, những việc làm công chính, xuất phát từ tình yêu và lòng thương xót.Chính bởi những xét đoán sai lầm, cũng như bởi nọc độc của lòng ghen ghét và tính kiêu căng, mà chúng đã vu khống và phán đoán cách bất công những việc làm của Con Cha. Chính sự lầm lạc và ghen ghét đã khiến chúng thốt lên: “Ông này hành động với quyền năng của beelzebuth” (Mt 12:24). Cũng vậy, những kẻ độc ác này, bị khống chế bởi tính hà tiện, bởi lòng tự ái, bởi dục tình, bởi kiêu căng, bởi ghen tuông, chúng lạc hướng do xét đoán cay độc, mù quáng vì các tội lỗi khác, nên đã vấp phạm vì Cha và vì các đầy tớ của Cha. Chúng xét đoán các tôi tớ Cha làm các việc lành phúc đức là đạo đức giả. Vì tâm hồn chúng hư hỏng, sự nhận xét của chúng lệch lạc, cho nên việc xấu xa chúng cho là tốt lành, và cuộc đời phóng đãng chúng cho là lương thiện.

Ôi, con người mù quáng dường nào! Hỡi con người, ngươi coi thường phẩm giá của ngươi quá đáng! Ngươi rất lớn lao, nhưng ngươi đã làm cho mình ra bé nhỏ. Ngươi là ông chủ, nhưng ngươi đã làm cho mình trở thành tôi tớ và nô lệ tội lỗi; ngươi đã trở nên giống sự vật mà ngươi thờ lạy. Tội lỗi là một thứ hư vô, ngươi đã trở nên không bằng cái hư vô; ngươi đã bỏ mất sự sống, và đã tự giành lấy cái chết.

Ngôi Lời Con Ta đã ban cho các ngươi sự sống và quyền năng. Xưa kia các ngươi là nô lệ của ma quỷ, Con Ta đã giải thoát các ngươi khỏi cảnh nô lệ này. Ngài đã hiến thân làm nô lệ, để cứu các ngươi khỏi ách nô lệ. Ngài đã cúi đầu vâng phục, để phá tan sự bất tuân phục của Ađam. Ngài đã hạ mình xuống đến cái chết ô nhục trên Thánh Giá, để cho sự kiêu căng trở thành điều hổ nhục. Với cái chết của mình, Ngài đã đánh tan, đã phá huỷ mọi nết xấu, không trừ một nết xấu nào, để không còn ai có thể nói: có tội này tội kia chưa bị trừng phạt; bởi vì tất cả mọi nết xấu đều đã bị đánh phạt trên Thân thể Con Cha. Cha đã dùng thân thể Ngài làm cái đe cho sự công minh của Thiên Chúa.

Tất cả mọi phương thế đã được ban cho con người để được thoát khỏi cái chết muôn đời, nhưng người ta đã khinh chê Máu Thánh Con Cha; họ đã dày đạp Máu đó dưới chân của tình yêu phóng đãng. Đó là sự bất chính, đó là phán đoán sai lầm, mà thế gian sẽ bị bắt lỗi vào ngày phán xét. Đó là điều mà Đấng Chân Lý của Cha muốn dạy thế gian, khi Ngài nói: “Thầy sẽ sai Đấng An Ủi đến, Ngài sẽ bắt lỗi thế gian về sự bất chính và về phán đoán sai lầm” (Ga 16:8). Tất cả đều ứng nghiệm, khi Cha sai Chúa Thánh Thần xuống trên các Tông đồ.

Giải nghĩa lời Chúa Kitô: “Thầy sẽ sai Thánh Thần đến, Ngài sẽ bắt thế gian nhận tội bất chính và phán đoán sai lầm” (Ga 6:8), và tại sao một trong những lời trách cứ nay sẽ còn mãi?

  1. Thế gian bị lên án về ba điều: lời lên án thứ nhất, là khi Chúa Thánh Thần xuống trên các tông đồ. Như Cha đã nói, các ông được thêm sức mạnh bởi quyền năng của Cha, được soi sáng bởi đức khôn ngoan của Con yêu dấu Cha, và đã nhận được tất cả sự viên mãn của Chúa Thánh Thần. Chính khi đó, Chúa Thánh Thần, là một với Cha và với Con Cha, đã tố cáo thế gian qua miệng các tông đồ, bằng Giáo lý của Đấng Chân Lý, Con Các tông đồ và những người kế vị các ông, bằng cách tuân theo chân lý đã nhận được từ lời các ông giảng dạy, đã đồng loạt tố cáo thế gian. Đấy, sự tố cáo không ngừng qua lời của Kinh Thánh và qua miệng các tôi tớ của Cha. Cha đã đặt Thánh Thần trên lưỡi họ, khi họ loan báo chân lý của Cha, cũng như ma quỷ được đặt trên lưỡi các tôi tớ của nó, những kẻ dấn thân vào dòng sông tội lỗi. Nhưng lời tố cáo này chỉ là những khuyên bảo nhẹ nhàng, và Cha sẽ cho tiếp tục mãi, vì Cha hằng quan tâm đến ơn cứu độ các linh hồn.

Không ai có thể nói: tôi đã không được dạy bảo và sửa lỗi, vì Cha đã bày tỏ chân lý cho hết mọi người. Cha đã dạy cho mọi người biết đâu là nhân đức, đâu là nết xấu. Cha đã tỏ cho họ thấy hoa trái của nhân đức và những hậu quả tai hại của nết xấu, để gợi lên trong lòng họ những tâm tình đạo đức, một sự kính sợ thánh thiện, giúp họ yêu mến nhân đức và chê bỏ nết xấu. Cha đã không dùng một Thiên thần để giảng dạy cho họ Giáo lý của Cha, để họ sẽ có thể nói: “Thiên thần là thần linh hiển phúc, không có thể phạm tội, vì không biết đến những mũi nhọn của xác thịt”.

Không, Cha không để cho họ có thể chữa mình như thế. Giáo lý này đã được giảng dạy bởi Ngôi Lời nhập thể trong xác thịt phải chết của các con. Và ai là những người đã đi theo chân Ngôi Lời? Đó là những thụ tạo sẽ chết như các con, có những đam mê như các con, trải qua cuộc chiến đấu của xác thịt chống lại thần trí như các con. Đó là Phaolô, sứ giả của Cha (Xc Gl 5:17 và 2Cr 12:7), và đó là muôn vàn người hiển phúc nam nữ của Cha: tất cả đều là những phàm nhân có đam mê thứ này, hay thứ khác.

Cha đã để và vẫn để cho người ta bị những đam mê xúi giục, để gia tăng ân sủng và thêm tiến bộ trên con đường nhân đức cho các linh hồn. Vậy, chư vị hiển phúc cũng đã sinh ra trong tội lỗi như các con, chư vị đã được nuôi dưỡng bởi cùng một lương thực như các con, và khi đó cũng như bây giờ, Cha vẫn không phải là một Thiên Chúa đó sao? Quyền năng của Cha không suy giảm, và không thể suy giảm. Luôn luôn Cha vẫn có thể và vẫn muốn cứu vớt những ai kêu cầu Cha. Con người thật sự xin Cha trợ giúp, khi nó bỏ con sông trần gian, để theo đường đi trên cầu, nghĩa là tuân theo giáo lý của Đấng Chân Lý dịu hiền.

Vậy con người không thể chữa mình, vì nó luôn được Cha nhắc nhở, và chân lý của Cha luôn được trình bày cho nó. Nếu người ta không sửa mình khi còn thời giờ để làm việc ấy, nó sẽ bị lên án khi bị tố cáo lần thứ hai. Vào giây phút cuối cùng của giờ chết, sự công minh của Cha sẽ kêu gọi chúng: “Hỡi những kẻ chết, hãy chỗi dậy và đến chịu phán xét!” (Xc Dn 12:1-2). Nghĩa là, hỡi những kẻ đã chết vì mất ân sủng và sắp chết về phần xác, hãy chỗi dậy, hãy ra trước toà Vị Thẩm Phán tối cao cùng với việc làm bất chính và sự phán đoán sai lầm của các ngươi, ánh sáng đức tin của các ngươi ở đâu? Đó là ánh sáng đã được thắp lên trong bí tích thánh tẩy, mà các ngươi đã lãnh nhận, nó đã tắt ngúm rồi, bởi gió của tính kiêu ngạo và những phù phiếm của tâm hồn. Các ngươi đã mở tâm hồn ra như căng buồm đón lấy mọi cơn gió nghịch với ơn cứu độ. Những cơn gió của nịnh bợ đã thổi phồng cánh buồm của lòng tự ái; và các ngươi đã đi trầm mình trong con sông của lạc thú và sang trọng thế gian; đã cố tình thả mình theo gió cám dỗ của xác thịt và lăn vào cạm bẫy của ma quỷ.

Bằng cách thổi gió vào cánh buồm lòng tự ái của các ngươi, ma quỷ đã dẫn đưa các ngươi đi con đường dưới gầm cầu, trong dòng chảy xiết cuốn các ngươi tới chỗ diệt vong muôn đời.

Về lời tố cáo thứ hai: con người bị buộc tội bất chính và phán đoán sai lầm, nói chung và nói riêng.

  1. Con rất yêu dấu của Cha, lời lên án thứ hai này diễn ra trong giờ phút cuối cùng, khi còn cách nào chữa chạy nữa. Con người đứng trước cửa sự chết, và lúc đó, nó lại thấy con sâu của lương tâm mà trước đó nó không cảm thấy, vì nó bị mù quáng bởi lòng tự ái; nhưng vào giây phút ấy của sự chết, khi con người thấy mình sắp rơi vào tay Cha, con sâu đó lại thức dậy, bắt đầu rúc rỉa lương tâm bằng những lời trách móc, mắt chỉ nhìn thấy những khổ hình dành cho tội lỗi đang chờ sẵn. Nếu lúc ấy, linh hồn này có được ánh sáng để nhận biết tội lỗi mình và ăn năn thống hối, không phải vì hình phạt địa ngục mà nó sắp phải chịu đựng, nhưng vì Cha là Đấng nó đã xúc phạm, Đấng Tốt Lành vô cùng, thì nó còn trông được lòng thương xót. Nhưng nếu nó trải qua giây phút của giờ chết, không một ánh sáng, những bị cắn rứt trong lương tâm, không trông cậy vào Máu Thánh Con Cha mà chỉ nghĩ đến hình phạt phải chịu, chỉ than thân trách phận, không hối hận vì đã xúc phạm đến Cha, thì nó sẽ rơi vào án phạt muôn đời.

Chính đấy, là lúc nó bị lên án cách nghiêm khắc bởi đức công minh của Cha, nó bị buộc tội bất chính và phán đoán sai lầm, không phải vì tội bất chính và phán đoán sai lầm như trong các hành vi thường ngày của nó; nhưng nhất là sự bất chính nó mắc phải trong giờ phút cuối cùng này, khi nó nghĩ sự khốn cùng của nó lớn hơn lòng thương xót của Cha. Đó là tội không thể được tha ở đời này cũng như ở đời sau (Xc Mt 12:31-32). Nó đã từ chối, đã khinh chê lòng thương xót của; đó là tội nặng nhất đối với Cha, nặng nhất trong tất cả các tội lỗi nó đã phạm. Bởi vậy, sự mất lòng trông cậy của Giuđa đã làm cực lòng Cha, và gây đau đớn cho Con Cha, hơn chính tội phản bội của y. Như vậy, án phạt nặng nhất cho con người, là vì đã nghĩ đoán sai lầm rằng: tội của nó lớn hơn lòng thương xót của Cha. Chính bởi vậy mà nó phải chịu khổ hình muôn đời.

Con người còn bị tố cáo tội bất chính, khi nó hối hận vì hình khổ nó phải chịu, hơn là vì xúc phạm đến Cha. Đó thật sự là một sự bất công bất chính, vì nó không trả cho Cha những gì nó mắc nợ với Cha, và không trả cho bản thân nó những gì nó phải trả cho chính mình nó. Nó mắc nợ Cha tình yêu mến và những nước mắt hối hận vì đã xúc phạm đến Cha; trái lại, nó chỉ biết khóc than vì thương thân phận nó, và vì hình phạt nó đáng phải chịu mà thôi. Con thấy chưa, nó đã phạm hai tội, bất chính và phán đoán sai lầm, cho nên nó bị lên án vì tội này và tội kia. Vì nó khinh chê lòng thương xót của Cha, cho nên đức công minh của Cha đã luận phạt nó, cùng với nữ tì độc ác của nó là tính dục nó, và chung với ma quỷ là tên bạo chúa mà nó đã đem thân làm nô lệ, cũng như đem dục vọng đi phục vụ nó; Cha bắt mọi cơ quan và tính dục chúng phải chịu cực hình, vì chúng đã hùa nhau phạm tội. Con người toàn bộ sẽ phải chịu mọi cực hình bởi tay ma quỷ làm đao phủ thủ Cha dùng để trừng trị kẻ làm điều ác.

Về bốn cực hình chính, quy tụ mọi cực hình khác. Nói riêng về sự xấu xa của ma quỷ.

  1. Con ơi, lưỡi của con không bao giờ nói hết được sự đau đớn của những linh hồn bị nguyền rủa này. Con biết có ba nết xấu chính: thứ nhất là lòng tự ái. Nó sinh ra nết xấu thứ hai là tự tôn tự đại, rồi sinh ra nết xấu thứ ba là tính kiêu ngạo cùng với tất cả mọi điều bất chính, những độc ác, những gian tà và thô bỉ khác. Trong hoả ngục cũng có bốn hình khổ chính, tạo nên nhiều hình khổ khác nhau. Cực hình thứ nhất là không được phúc kiến Cha. Khổ hình này lớn lao đến nỗi - nếu có thể được - chúng sẽ chọn chịu lửa thiêu đốt và mọi cực hình khác mà được phúc kiến Cha, hơn là được thoát khỏi mọi khổ hình, song không được hưởng kiến Cha.

Khổ hình này còn gia tăng bởi khổ hình thứ hai, là con sâu của lương tâm không ngừng rúc rỉa, và không ngừng gợi lại cho chúng rằng: chính tội lỗi chúng đã làm chúng không được ơn phúc kiến Cha và sống chung với các Thiên thần; chính tội lỗi khiến chúng đáng phải sống chung với ma quỷ, ngày đêm chỉ nhìn thấy lũ quỷ.

Phải nhìn xem lũ quỷ như thế là khổ hình thứ ba, khổ hình này sẽ tăng gấp đôi sự khốn khổ của chúng. Các phúc nhân hưởng hạnh phúc vì được phúc kiến Cha, và trong niềm vui bất tận, chư vị được phần thưởng về những gian khổ đã chịu đựng vì Cha, với bao tình mến yêu Cha và chê bỏ bản thân mình. Trái lại, các kẻ tiêu vong kia cảm thấy những khổ hình của mình tăng lên mãi bởi chỉ nhìn thấy quỷ dữ. Nhìn thấy ma quỷ, chúng nhận biết mình hơn và hiểu những hình phạt này là xứng đáng bởi tội lỗi của mình. Khi đó, con sâu của lương tâm luôn cấu xé chúng, và thiêu đốt chúng bằng một thứ lửa không hề tắt (Xc Is 66:24 và Mc 9:48). Điều làm cho khổ hình của chúng trở nên rất ghê sợ và khủng khiếp, đó là chúng nhìn thấy lũ quỷ đúng chân tướng, lũ quỷ xấu xa ghê tởm hơn lòng trí con người có thể tưởng tượng được.

Con nhớ Cha đã cho con nhìn thấy bọn quỷ ở lửa hoả ngục trong giây phút thôi, vậy mà khi con hoàn hồn, con đã thà bước đi trên đống lửa cho đến ngày phán xét chung, chẳng thà nhìn thấy chúng một lần nữa. Tuy nhiên, tất cả những gì con đã xem thấy đó, vẫn chưa đủ để hiểu được sự thật quỷ vương xấu xa dữ tợn chừng nào. Do sự công minh của Cha, Cha sẽ cho những linh hồn lìa xa Cha kia thấy các quỷ xấu xa kinh tởm hơn nhiều, tuỳ theo mức độ tội lỗi của linh hồn.

Cực hình thứ bốn của hoả ngục là lửa, lửa này thiêu đốt mà không tiêu huỷ, vì linh hồn không phải là hữu thể vật chất, nên nó không thể bị tiêu huỷ bởi lửa. Nhưng do đức công minh của Cha, Cha để cho lửa này thiêu đốt các linh hồn cách rất đau đớn, làm khổ chúng mà không tiêu huỷ chúng, trừng phạt chúng cho cân xứng, tuỳ theo các thứ tội chúng đã phạm, và tuỳ theo mức nặng nhẹ của tội lỗi.

Cùng với bốn cực hình này, còn có nhiều hình khổ khác nữa, như lạnh, nóng, nghiến răng và các thứ khác. Đó là những hình phạt dành cho các kẻ bị diệt vong này, vì chúng đã được cảnh báo lần thứ nhất trong cuộc đời chúng về tội bất chính và phán đoán sai lầm, nhưng chúng đã không sửa mình; rồi vào giờ chết chúng bị khiển trách lần thứ hai, nhưng vẫn không hối hận vì đã xúc phạm đến Cha, mà chỉ lo buồn vì hình phạt đang chờ đợi chúng, nên chúng phải chết muôn đời.

Về sự lên án thứ ba, diễn ra vào ngày phán xét.

  1. Bây giờ phải nói về sự lên án thứ ba, diễn ra vào ngày phán xét cuối cùng. Cha đã nói với con về hai bản án trên, bây giờ Cha sẽ bày tỏ cho con về sự lên án thứ ba này, để con thấy con người lầm lạc dường nào. Ngày phán xét chung sẽ làm mới lại và tăng thêm khổ hình cho linh hồn vô phúc này, khi nó hợp lại với thân xác nó, làm nó xấu hổ không lưỡi nào tả xiết.

Con nên biết: vào ngày phán xét chung, Ngôi Lời uy quyền sẽ ngự trên mây trời mà đến để xét xử thế gian. Ngài sẽ không xuất hiện như một kẻ nghèo hèn, như khi sinh ra từ cung lòng một trinh nữ, nơi chuồng bò, giữa loài vật, hoặc như khi Ngài chết giữa hai tên trộm cướp. Khi đó, Cha giấu kín uy quyền của Cha ở nơi Ngài. Cha để Ngài chịu đau khổ và chịu chết như một phàm nhân. Không phải bản tính thần linh của Cha đã tách rời khỏi bản tính nhân loại nơi Ngài, nhưng Cha đã để Ngài đau khổ như một tội nhân, hầu đền thay tội lỗi các con. Người ta sẽ không thấy Ngài như thế vào ngày phán xét. Ngài sẽ đếnđể xét xử thế gian trong uy quyền của Ngôi Lời. Ngài sẽ trả cho mỗi người theo công trạng mỗi người: không vật thụ tạo nào mà không run sợ, khi các Thiên sứ thổi loa vang dậy tập hợp mọi người từ bốn phương (Xc Mt 24:30-31).

Nhìn thấy Ngài, các kẻ mang án phạt sẽ đau khổ vô cùng, sẽ kinh hãi không lưỡi nào diễn tả được. Còn các người công chính thì cảm thấy một sự kính sợ lẫn vui mừng. Diện mạo của vị Thẩm Phán không thay đổi, vì Ngài bất biến do bản tính Thần linh mà Ngài với Cha là một. Ngài bất biến về cả bản tính nhân loại nữa, vì Ngài không thay đổi kể từ khi mặc lấy vinh quang Phục Sinh. Nhưng đối với con mắt những kẻ bị luận phạt, Ngài thật đáng sợ, bởi vì chúng nhìn Ngài với sự kinh hoàng và bối rối từ đáy lòng. Con mắt bệnh hoạn chỉ thấy tối tăm nơi mặt trời, nhưng mắt lành mạnh thì thấy ánh sáng rực rỡ của mặt trời. Không phải mặt trời không có ánh áng, cũng không phải mặt trời đã thay đổi, đối với người mù thì khác, đối với người mắt sáng thì khác. Không thấy ánh sáng là lỗi tại con mắt bệnh hoạn; cũng vậy, các kẻ bị đày đoạ sẽ nhìn thấy Con Cha trong tối tăm, trong xấu hổ, trong căm giận. Nhìn thấy như vậy là lỗi tại chúng, không tại sự uy nghi thần linh của Con Cha, khi Ngài ngự đến phán xét thế gian.

Những kẻ bị án phạt không thể muốn hay ước ao được điều thiện nào nữa.

  1. Sự căm giận của các kẻ bị đày hoả ngục rất lớn lao, đến nỗi chúng không thể muốn hay ước ao một điều thiện nào cả. Chúng không ngừng nói phạm đến Cha. Con biết tại sao chúng không thể ước ao điều thiện không? Bởi vì cùng với cuộc sống, con người đã hết thời giờ sử dụng ý chí tự Chúng đã để mất thời giờ dành cho chúng để lập công phúc. Từ nay, chúng không thể lập công phúc nữa. Khi mang tội trọng, con người chết trong căm hờn, sự công minh của Cha sẽ để linh hồn ở trong sự căm hờn mãi mãi; mãi mãi nó sẽ ở trong tội nó đã phạm. Nó sẽ tự dày vò mình, và cực khổ của nó còn tăng thêm bởi cực hình của những kẻ, đã vì nó lôi cuốn mà phải chịu cùng án phạt.

Con hãy nhớ truyện người phú hộ bị án phạt: y xin ơn sai Lazarô đi kiếm các em y còn sống trên dương thế, để báo cho chúng biết y đang bị lửa thiêu đốt khốn khổ lắm (Xc Lc 16:27-28). Không phải vì tình bác ái mà người phú hộ làm thế, cũng chẳng phải vì cảm thương các em y đâu, bởi vì y không có đức bác ái và không thể ước ao điều thiện, y cũng không muốn vinh quang của Cha hoặc ơn cứu độ cho các linh hồn. Như Cha đã nói với con: những kẻ bị tiêu vong này không thể làm một điều thiện nào nữa, và chúng luôn nói phạm đến Cha, cuộc đời chúng đã kết thúc trong sự căm hờn Cha và chê ghét nhân đức.

Vậy tại sao người phú hộ kia đã xin như vậy? Y làm thế vì y là kẻ lớn nhất trong các em, và đã dạy bảo các em mình theo đường lối bất chính như y. Y là duyên cớ để các em bị án phạt, y biết trước việc đó sẽ làm tăng thêm hình khổ cho y, khi các em y xuống chia sẻ cực hình với y. Bởi vì các kẻ chết trong căm giận, sẽ đời đời cắn xé nhau trong căm thù.

Vinh hiển của các phúc nhân.

  1. Cũng vậy, linh hồn công chính đã kết thúc cuộc đời trong đức ái, thì sẽ muôn đời gắn bó với đức ái. Linh hồn ấy cũng không thể tăng thêm nhân đức, vì thời gian đã hết. Nhưng mãi mãi linh hồn yêu mến bằng tình yêu nó có khi đến với Và mức độ tình yêu của nó sẽ là mức độ diễm phúc cho nó (Xc Mt 7:2). Mãi mãi nó yêu mến Cha, và niềm ước ao của nó sẽ không bao giờ bị hụt hẫng. Nó đói khát và được no thoả, nó no thoả mà vẫn thèm khát; vì thế không bao giờ nó cảm thấy chán vì no thoả, cũng như không bao giờ đau đớn vì thèm khát.

Các phúc nhân được hưởng kiến Cha trong tình thương muôn đời. Họ được dự phần vào sự thiện của Cha, và Cha thông ban cho họ tuỳ theo cấp độ lòng kính mến mà họ có đối với Cha, khi đến với Cha. Bởi vì họ ở trong tình yêu của Cha, và có tình thương tha nhân, và vì họ liên kết với nhau trong đức ái chung và riêng, đến từ cùng một đức ái. Cho nên ngoài sự tốt lành chung và các phúc nhân được vui hưởng, còn thêm dự phầnhạnh phúc của mọi người khác. Họ chia sẻ niềm vui và hạnh phúc của các Thiên thần, được đầy hân hoan giữa các phúc nhân, họ khác nhau theo cấp độ các nhân đức mà họ đã mặc lấy khi còn sống ở trên trần gian, trước khi được sum họp cùng các Thiên thần và các Thánh, bằng sợi dây đức ái.

Họ đặc biệt chia sẻ hạnh phúc của những người, mà họ đã yêu mến bằng một mối tình riêng biệt khi còn sống ở dương thế. Mối tình này đã giúp họ tăng trưởng về ân sủng và nhân đức; họ thúc giục nhau làm sáng danh và tôn vinh Cha nơi bản thân họ và nơi tha nhân. Mối tình này không mất đi trong cuộc sống vĩnh cửu, mối tình này còn mãi mãi. Mối tình này làm tăng thêm hạnh phúc của họ, do niềm vui mà người này cảm nhận vì hạnh phúc của người kia.

Cha không muốn để con người nghĩ rằng: hạnh phúc của người lành thánh là chuyện riêng tư của mỗi người; không phải vậy, hạnh phúc này được chia sẻ giữa các phúc nhân trên Nước Trời, giữa các Thiên thần và mọi con cái yêu dấu của Cha. Thoạt khi một linh hồn bước vào hạnh phúc muôn đời, tất cả các Thần thánh đều chia sẻ hạnh phúc của linh hồn đó, và linh hồn đó được tham dự hạnh phúc của tất cả. Không phải chén hạnh phúc của các phúc nhân có thể lớn hơn, hoặc cần được đổ đầy thêm; không phải vậy, chén này đầy rồi và không thể lớn thêm được, nhưng niềm vui của họ, hạnh phúc của họ được đổi mới và gia tăng, khi thấy một linh hồn được lòng thương xót của Cha, đưa từ trái đất lên nơi vĩnh phúc Nước Trời.

Đến lượt linh hồn này thấy mình được hạnh phúc nơi Cha và nơi các thần thánh vinh hiển, khi chiêm ngưỡng và hưởng nếm sự tốt lành và ngọt ngào của đức ái thần linh nơi họ. Niềm ước ao của tất cả mọi thần thánh hướng về Cha, đồng thanh cầu xin ơn cứu độ cho tất cả thế giới. Họ kết thúc cuộc đời trong đức ái đối với tha nhân, và tình yêu này không bao giờ rời bỏ họ. Với tình yêu đó, họ đã đi qua cửa là Con Một Cha (Xc Ga 10:7,9), như Cha sẽ nói cho con nghe sau này. Họ liên kết nhau trong mối tình yêu mến và họ sẽ giữ mối tình ấy đến muôn đời.

Họ hiệp nhất với Thánh ý Cha cách mật thiết, đến nỗi chỉ muốn những gì Cha muốn. Bởi vì ý chí tự do của họ đã ràng buộc với đức ái cách chặt chẽ, đến nỗi một thụ tạo có lý trí chết trong ân sủng khi lìa đời, thì không thể phạm tội nữa. Ý muốn của nó kết hiệp mật thiết với ý muốn của Cha, đến độ khi nó là cha mẹ mà thấy con cái ở trong hoả ngục, hoặc nó là con cái mà thấy cha mẹ ở trong hoả ngục, nó sẽ không đau khổ; họ còn cảm thấy vui mừng vì các kẻ bị trừng phạt là đáng tội, và vì là kẻ thù nghịch Cha. Từ nay, giữa nó và Cha không có gì là bất đồng, dù rất nhỏ mọn, và mọi ước nguyện của nó đều được thoả mãn.

Niềm ước ao của chư vị thần thánh là chiêm ngắm vinh quang của Cha thể hiện nơi các con, là những khách lữ hành đang mau chân đi về quê trời. Đồng thời, sự ước ao làm vinh danh Cha của chư vị là nhìn thấy ơn cứu độ của các con, cho nên chư vị không ngớt cầu xin cho các con. Phần Cha, Cha thoả mãn sự ước ao đó của chư vị, miễn là các con không mù quáng cưỡng lại lòng thương xót của Cha. Chư vị cũng ước ao có phần thưởng cho thân xác mình, và cho dù lúc này không có thân xác, các vị cũng không vì thế mà buồn phiền, vì biết chắc một ngày nào đó sẽ được như lòng mong ước. Sự kiện không có thân xác lúc này không tạo nên cho các vị một sự ưu phiền, cũng không làm phúc lộc của chư vị suy giảm.

Con đừng nghĩ rằng: sự tuyên dương thân xác sau khi sống lại sẽ gia tăng hạnh phúc của linh hồn. Nếu thế là đúng, thì bao lâu linh hồn còn xa cách thân xác, nó chỉ hưởng một hạnh phúc bất toàn. Điều này không đúng, vì không có gì thiếu cho hạnh phúc của một linh hồn vinh hiển. Không phải thân xác mang lại hạnh phúc cho linh hồn, nhưng chính linh hồn làm cho thân xác tham dự vào hạnh phúc của mình. Chính linh hồn làm cho thân xác tràn đầy hạnh phúc của mình khi, vào ngày tận thế, nó lại mặc lấy thân xác của nó, mà nó đã cởi bỏ như một tử thi khi lìa trần.

Linh hồn bất tử, vì được kết hợp với Cha, cũng thế, nhờ sự kết hợp với linh hồn mà thân xác trở nên bất tử; nó không còn nặng nề nữa và trở nên lanh lẹ và nhẹ nhàng. Vì thế, một thân xác vinh hiển sẽ vượt qua những bức tường, lửa và nước không làm hại được nó. Đó không phải là quyền năng của thân xác, nhưng là quyền năng của linh hồn, một đặc ân của ân sủng đã được ban cho linh hồn, do tình thương khôn tả đã khiến Cha tác tạo nên linh hồn theo hình ảnh Cha và giống Cha. Mắt của trí tuệ con không thể nhìn xem, tai không hề nghe, lưỡi không thể nói, lòng không thể suy ra hạnh phúc, Cha dành cho các người được tuyển chọn trên Nước Trời.

Chư vị thần thánh sẽ vui sướng biết bao vì được xem thấy Cha, Sự Thiện tuyệt đối! Chư vị sẽ vui mừng biết bao khi thân xác của các vị được tuyên dương. Các vị chỉ có được hạnh phúc này vào ngày phán xét chung, nhưng từ nay đến đó, các vị không cảm thấy buồn phiền gì hết. Không có gì còn thiếu cho diễm phúc của các vị, bởi vì linh hồn đã được tràn đầy hạnh phúc, còn thân xác chỉ được chia sẻ hạnh phúc này mà thôi.

Phải nói thế nào với con, về hạnh phúc mà các thân xác vinh hiển sẽ nhận được, nhờ nhân tính của Ngôi Lời được tôn vinh, đã mang lại cho các con niềm tin chắc chắn sẽ được sống lại. Họ sẽ nhảy mừng khi nhìn thấy các thương tích còn mới, những vết thương chưa lành trên thân thể Ngài, những thương tích luôn kêu xin Cha thương xót các con, vì Cha là Đấng Tối Cao và Vĩnh Cửu. Họ sẽ được thưởng nếm sự vui mừng vì được trở nên giống Ngài. Con mắt của họ sẽ giống như con mắt Ngài, bàn tay của họ sẽ giống như bàn tay của Ngài, tất cả thân thể họ giống như thân thể của Ngôi Lời, Con dịu hiền của Cha. Các con hãy ở lại trong Cha, các con cũng sẽ ở lại trong Ngài, vì Ngài với Cha là một. Cặp mắt nơi thân xác các con sẽ mở ra trong nhân tính vinh hiển của Ngôi Lời Con Cha. Vì sao? Vì cuộc đời một khi đã kết thúc trong đức ái của Cha, sẽ tồn tại muôn đời trong Cha.

Chư vị thần thánh không còn có thể làm việc lành nào nữa, nhưng họ vui mừng vì những việc lành đã làm. Cha có ý nói chư vị không còn lập công phúc gì hơn nữa, để mong được thêm phần thưởng. Chỉ ở đời này, con người mới có thể làm những việc phúc đức hay phạm tội, tuỳ theo cách con người sử dụng ý chí tự do của mình. Cho nên, các kẻ lành không chờ đợi ngày phán xét chung trong lo sợ nhưng với niềm vui. Họ sẽ không phải nhìn diện mạo Con Cha đáng sợ, hay oán giận, bởi vì họ đã kết liễu cuộc đời trong đức ái, đầy lòng kính mến Cha và yêu thương đồng loại. Vậy, con biết khi Ngài đến xét xử thế gian với uy quyền của Cha, nét mặt của Ngài sẽ không thay đổi, chỉ ra khác đối với những kẻ bị xét xử. Các kẻ bị luận phạt sẽ nhìn diện mạo Ngài đầy oán ghét và công thẳng, còn những người được cứu độ sẽ thấy Ngài đầy lân ái và xót thương.

Sau phán xét chung, khổ hình các kẻ bị án phạt gia tăng.

  1. Nếu ở đây Cha giải thích cho con về diễm phúc của người công chính, là để giúp con hiểu rõ hơn về những khổ cực của các kẻ bị án phạt. Một trong những khổ hình của chúng, là nhìn thấy hạnh phúc của người công chính. Sự nhìn xem này gia tăng hình khổ cho chúng, cũng như hình phạt của kẻ bị luận phạt tăng thêm cho người công chính niềm vui trong Cha là Đấng Tốt Lành; ví như ánh sáng tỏ hơn bởi bóng tối, và bóng tối càng ra đen tối nếu đứng cạnh ánh sáng. Nhìn thấy diễm phúc của người công chính sẽ là một cực hình cho kẻ phải diệt vong, cho nên chúng chờ đợi ngày phán xét chung trong sợ hãi, vì chúng biết đó sẽ là một khổ hình mới cho chúng.

Quả vậy, khi mọi người nghe thấy lời đáng sợ này: “Hỡi các kẻ chết, hãy chỗi dậy và đến chịu phán xét!” (Xc Dn 12:2-3), xác phàm sẽ trở lại kết hợp với linh hồn để thân xác của người công chính được tuyên dương, cũng là để hành hình thân xác kẻ bất chính đến muôn đời. Các kẻ này phải nhục nhã và xấu hổ biết chừng nào, trước mặt Đấng Chân Lý của Cha và toàn thể thần thánh.

Khi đó, con sâu của lương tâm sẽ rúc rỉa tuỷ của thân cây là linh hồn, nó còn gặm cả vỏ cây là thân xác. Lúc ấy, người tố cáo sẽ đứng lên chống lại chúng: đó là

Máu Thánh đã đổ ra để cứu chuộc chúng, những công trình của lòng Cha thương xót về phần hồn và phần xác, mà Con Cha đã thực hiện cho chúng; đó là nghĩa vụ của chúng đối với tha nhân, được viết trong Phúc Âm (Xc Ga 13:15). Chúng sẽ bị buộc tội độc ác đối với đồng loại, và tội bội phản lòng thương xót mà chúng đã nhận được từ nơi Cha. Chúng sẽ bị buộc tội kiêu ngạo, hoang dâm, hà tiện. Tất cả những tố cáo này sẽ lặp lại và làm cho việc kết án chúng càng thêm khủng khiếp. Vào lúc chết, chỉ mình linh hồn nghe thấy án phạt, nhưng trong ngày phán xét chung, cả hồn lẫn xác cùng nghe bản án này, bởi vì thân xác là bạn đồng hành và là dụng cụ của linh hồn, khi làm việc lành cũng như khi làm điều ác, theo ý muốn tự do của mỗi người.

Bất cứ hành vi nào, tốt hay xấu, đều được thực hiện qua trung gian của thân xác. Bởi vậy, hỡi con, thật là công bình nếu người công chính được hưởng vinh quang và hạnh phúc bất tận cùng với thân xác hiển vinh của họ, để linh hồn và thân xác cùng được hưởng phần thưởng cho những cực nhọc, mà họ đã cùng nhau chịu đựng vì Cha. Cũng vậy, thân xác các kẻ dữ sẽ chia sẻ những khổ hình của chúng đến muôn đời, vì thân xác chúng đã là dụng cụ làm nên tội lỗi. Cực hình của chúng sẽ được lặp lại và gấp đôi lên, khi chúng lấy lại thân xác chúng trước nhan Con Cha.

Dục vọng khốn nạn của chúng cùng với những tội dâm ô, sẽ bị lên án gắt gao chừng nào, khi chúng nhìn thấy tính loài người của chúng đã được kết hợp với Thần tính của Cha nơi Chúa Kitô! Và chúng sẽ nhìn thấy khối bùn đất Ađam, bản tính phàm nhân của các con, được nâng lên trên các đẳng Thiên thần, còn chúng thì bị đẩy xuống hoả ngục vì tội lỗi chúng. Chúng sẽ nhìn thấy sự quảng đại và lòng thương xót của Cha rạng ngời nơi người công chính, là những bậc chân phước đang được hưởng hoa trái của Máu Con Chiên. Chúng còn nhận ra những lao nhọc người công chính chịu đựng vì lòng kính mến Cha, đã trở thành một trang sức cho thân xác, giống như hoa thêu trên bộ áo. Và đấy không phải là công nghiệp của thân xác, nhưng là phần thưởng của linh hồn thông cho thân xác được chung hưởng, vì thân xác đã là bạn đồng hành của linh hồn trong việc thực thi các nhân đức. Như mặt con người được phản chiếu trên tấm gương soi, thì hoa trái của công nghiệp xưa cũng hiện ra nơi thân xác như vậy.

Khi nhìn thấy bao nhiêu vinh quang mà chúng hụt mất như thế, các kẻ khốn nạn này sẽ thấy khổ hình của chúng gia tăng, đồng thời cũng thêm xấu hổ cho chúng, khi chúng nhìn thấy những dấu vết tội lỗi xuất hiện trên thân xác chịu cực hình của chúng. Khi chúng nghe những lời đáng kinh sợ này: “Hỡi các kẻ vô phúc, hãy xuống lửa đời đời…” (Mt 25:41), thì cả hồn lẫn xác của chúng sẽ rụng rời cùng nhau đi xuống địa ngục ở với lũ quỷ, không còn chút hy vọng và an ủi nào nữa. Nơi đó, chúng sẽ chịu mọi thứ khổ hình, tuỳ theo cấp độ thứ tội mà chúng đã phạm.

Những kẻ hà tiện sẽ bị thiêu đốt, cùng với những kho tàng của cải thế gian mà chúng đã tích trữ. Những kẻ độc ác sẽ bị thiêu đốt với những hành vi độc ác của chúng. Những kẻ hoang dâm sẽ bị thiêu đốt với dục tính xấu xa của chúng; những kẻ bất chính sẽ bị thiêu đốt với những điều bất công; những kẻ ghen ghét sẽ bị thiêu với tính ganh tị; những kẻ hận thù sẽ bị thiêu với tính oán thù và ghét ghen đồng loại. Tính dung dưỡng mình quá độ cùng với tính kiêu ngạo, là căn nguyên mọi tội lỗi, khi đó lửa sẽ cháy bùng lên và gây cho chúng một sự đau đớn không kể xiết. Đó là cách tất cả chúng sẽ bị trừng phạt, cả hồn lẫn xác, mỗi người theo cách riêng của mình.

Đó cũng là sự kết thúc cuộc đời khốn nạn của các kẻ đi theo con đường dưới gầm cầu, con đường sông; chúng đã không muốn quay lại để nhìn nhận những lỗi lầm, và cầu xin Cha thương xót. Như vậy, chúng đã tới cửa của dối trá, vì chúng theo giáo lý của ma quỷ là cha sự gian dối. Ma quỷ là cửa đưa chúng vào án phạt muôn đời.

Ngược lại, các người công chính, các con yêu dấu của Cha, đã đi theo con đường trên cầu. Họ theo con đường chân lý vì chân lý là cửa của sự sống. Đúng như con Cha đã nói: “Không ai có thể đến được với Cha mà không qua Thầy” (Ga 14:6), Ngài là Cửa, là Sự Sống, phải qua Ngài để đến với Cha là Đại Dương của bình an. Trái lại, những kẻ theo sự dối trá đã được dẫn tới dòng sông của sự chết. Ôi, những kẻ mù quáng và khờ dại! Chính quỷ dữ đã kêu gọi chúng mà chúng không nhận ra, bởi vì chúng đã mất ánh sáng đức tin. Có vẻ như ác quỷ nói với chúng rằng: “Đến đây, hãy đến đây, hỡi những kẻ khát nước của sự chết, ta sẽ cho các ngươi uống…” (Xc Is 55:1; Kh 21:6).

Cám ơn sự hỗ trợ, động viên để duy trì và phát triển website. Mọi đóng góp xin gửi về:
Người nhận: Hoàng Nhật Minh
Số tài khoản: 103873878411
Ngân hàng: VietinBank

Bài Trước Đó Bài Tiếp Theo

Thư Viện Sách NóiTủ Sách Tâm Linh