Đối Thoại Của Thánh Catarina Sienna: Chương 2. Ơn Trở Nên Giống Chúa Kitô P4

ĐỐI THOẠI CỦA THÁNH CATARINA SIENNA: CHƯƠNG 2. ƠN TRỞ NÊN GIỐNG CHÚA KITÔ P4

Khi người ta yêu mến Thiên Chúa cách bất toàn, thì cũng yêu thương tha nhân cách bất toàn. Những dấu hiệu của lòng mến bất toàn này.

  1. Con nên biết: mọi sự bất toàn hay trọn lành của lòng yêu mến đối với Cha, đều có được và biểu lộ trong sự thương yêu tha nhân. Các linh hồn đơn sơ biết rõ điều này, khi chúng thương yêu các tạo vật bằng một tình yêu tâm Nếu chúng yêu mến Cha bằng một tình yêu tinh tuyền và vô vị lợi, thì chúng cũng yêu thương tha nhân cách tinh tuyền và vô vị lợi như vậy.

Cũng như một chiếc bình được đổ đầy nước tại giếng nước. Nếu người ta lôi chiếc bình ra xa để uống, thì bình sẽ mau chóng rỗng không. Còn như để nó ngập trong suối nước, người ta có thể uống mãi nước trong bình, mà bình vẫn đầy. Cũng phải nói như thế về tình yêu đối với tha nhân, về phương diện thiêng liêng cũng như về phương diện trần thế: phải uống ở trong Cha, không cách nào khác. Bởi vì Cha muốn các con yêu mến Cha bằng chính tình yêu, mà Cha yêu thương các con.

Sự thật, không bao giờ các con có thể làm một cách trọn vẹn đầy đủ. Cha thì yêu thương các con trước khi được các con yêu mến, và như vậy mọi sự yêu mến của các con đối với Cha đều là món nợ mà các con phải trả lại cho Cha, chứ không phải ân huệ các con làm cho Cha; còn tình thương Cha dành cho các con là một hồng ân Cha ban, nên Cha không mắc nợ gì các con.

Các con không thể đáp lại Cha một tình yêu cân xứng với Cha, nhưng Cha đã đặt tha nhân ở bên cạnh các con như một trung gian hay phương tiện, để các con làm cho tha nhân những gì các con không thể làm cho Cha: đó là yêu mến tha nhân vì ân tình, cách vô vị lợi, không mong đợi một lợi ích nào hết. Khi đó, Cha coi việc các con làm cho tha nhân như làm cho chính Cha vậy (Xc Mt 25:40). Đó là điều Đấng Chân Lý của Cha đã tỏ cho thấy, khi Ngài nói với

Phaolô đang bách hại Cha: “Saulô, Saulô, tại sao ngươi lại bách hại Ta?” (Cv 9:4). Ngài nói thế, vì Ngài cho rằng: bách hại các tín hữu của Cha là bách hại Cha.

Vậy tình yêu thương này phải trong suốt, vì các con phải yêu thương tha nhân với cùng một sự mến yêu các con dành cho Cha. Và con biết dựa vào đâu để nhận ra một tình thương bất toàn? Tình thương bị coi là bất toàn, khi người ta yêu thương với một tình yêu tâm linh, nhưng lại buồn phiền và đau khổ, khi tạo vật mình yêu thương thiếu vẻ đáp lại tình thương của mình, hoặc có vẻ không yêu thương nhiều như mình yêu thương nó; hoặc người ta đau khổ vì mất sự thân tình, mất sự an ủi từ phía tạo vật mình yêu thương, hoặc thấy nó yêu thương một người khác hơn mình.

TRA CỨU THẦN SỐ HỌC Đóng Xem Đường Đời, Sự Nghiệp, Tình Duyên, Vận Mệnh, Các Năm Đỉnh Cao Cuộc Đời...
(*) Họ và tên của bạn:
(*) Ngày tháng năm sinh:
 

Khoa học khám phá bản thân qua các con số - Pythagoras (Pitago)

Với những dấu hiệu này và nhiều dấu hiệu khác, người ta có thể kết luận rằng: tình yêu mà linh hồn đó dành cho Cha và cho tha nhân là một tình yêu bất toàn. Linh hồn đó đã có thể múc lấy tình yêu này ở nơi Cha, nhưng nó đã uống ở ngoài Cha, ngoài suối nước. Sự yêu mến nó dành cho Cha vẫn bất toàn, và sự yêu thương của nó đối với tha nhân cũng bất toàn, cho dù đó là một tình yêu tâm linh.

Tất cả là vì nó chưa nhổ sạch cái rễ của tính tự ái tinh thần. Nhiều khi Cha để cho nó chịu thử thách với tình yêu thương đó, để nó ý thức về sự bất toàn của mình. Cha rút khỏi nó không cho nó nghiệm thấy Cha hiện diện, để nó tự nhốt mình trong căn phòng của sự tự ý thức về mình, ở đó nó sẽ đạt tới sự trọn lành. Sau đó, Cha sẽ trở lại với một ánh sáng chan hoà hơn, với một sự hiểu biết sâu xa về Đấng Chân Lý dịu hiền của Cha, đến nỗi từ nay nó sẽ coi là một ân huệ khi vì Cha mà nó đã giết chết được ý riêng của nó.

Khi ấy, nó chỉ còn việc nhổ cỏ và vun xới vườn nho linh hồn mình, nhổ những gai góc khỏi những tư tưởng của mình và đặt vào những viên đá nhân đức được xây nền trong Máu Thánh Chúa Kitô; đó là những nhân đức nó đã gặp được khi đi trên cây cầu là Chúa Kitô chịu đóng đinh, Con Một Cha. Chắc con còn nhớ Cha đã nói với con: trên cây cầu tức giáo lý của Đấng Chân Lý dịu hiền, có những viên đá được xây nền trên thần lực của Máu Ngài, bởi vì các nhân đức chỉ mang lại sự sống, nhờ vào hiệu lực của Máu Con Cha.

Phương cách linh hồn phải theo để đạt tới lòng mến yêu trọn vẹn và quảng đại.

  1. Thế là linh hồn đã đi vào con đường hoàn thiện, khi bước theo giáo lý của Chúa Kitôchịu đóng đinh, với lòng mến yêu nhân đức và chê ghét nết xấu, nó đã đi tới căn phòng nhỏ của sự biết mình với tất cả sự kiên tâm. Nó cấm cung trong đó với những buổi canh thức và cầu nguyện liên lỉ, hoàn toàn cách ly khỏi mọi chuyện trò thế tục. Nó tự nhốt mình vào trong đó vì sợ hãi, bởi nó biết rõ sự bất toàn của mình, và cũng bởi vì nó ước ao đạt tới lòng mến yêu trọn vẹn và quảng đại. Nó hiểu biết rõ không có phương cách hay con đường nào khác để đạt tới, cho nên nó chờ đợi Cha ở trong đó với một niềm tin vững vàng, nó chờ Cha đến để gia tăng ân sủng cho nó.

Nhưng lấy dấu nào để nhận ra niềm tin sống động ấy? Là sự kiên trì trong đàng nhân đức, chuyên chăm nguyện gẫm, dầu có bất cứ điều gì xảy ra; bởi vì không bao giờ người ta được bỏ cầu nguyện, chỉ trừ khi đức vâng lời và đức ái đặt ra cho ta một nghĩa vụ.

Nhiều khi ma quỷ ưa chọn thời gian cầu nguyện để quấy phá và tấn công linh hồn. Nó tìm cách làm cho linh hồn chán ngán việc cầu nguyện. Nó rỉ tai vào trong linh hồn này: “Việc cầu nguyện chẳng ích lợi gì cho mày đâu, vì trong khi cầu nguyện mày không thể nghĩ tưởng hay quan tâm đến sự gì khác, ngoài những gì mà miệng mày thốt ra”. Ma quỷ khéo đưa ra những lời lẽ như vậy để gieo sự chán ngán vào linh hồn, khiến nó rối trí và dẫn nó tới chỗ bỏ rơi vào việc cầu nguyện. Cầu nguyện là một vũ khí để linh hồn chống lại mọi kẻ thù, khi lời cầu nguyện bảo vệ và nâng đỡ nó bằng bàn tay của tình yêu mến, là cánh tay sức mạnh của ý chí tự do, được hướng dẫn bởi ánh sáng đức tin rất thánh.

Nhân khi bàn về bí tích Mình Thánh Chúa Kitô, linh hồn được dạy cho biết làm thế nào để chuyển từ việc đọc kinh ngoài miệng, đến việc cầu nguyện trong tâm trí, qua bài học của một cuộc thị kiến.

  1. Con rất yêu dấu, con nên biết: chính nhờ sự kiên trì trong việc cầu nguyện khiêm nhường, liên tục và đầy lòng tin, mà linh hồn tạo được các nhân đức. Vậy, linh hồn phải vững vàng và đừng bao giờ dừng lại bởi các sự bày vẽ của ma quỷ, hoặc do yếu đuối của mình, nghĩa là do các ý nghĩ phát xuất bởi xác thịt hay do những lời lẽ không đứng vững, mà ma quỷ thường đặt vào miệng lưỡi người đời, để làm cho linh hồn bỏ rơi việc cầu nguyện.

Ôi, việc cầu nguyện thánh thiện thì ngọt ngào dường nào đối với linh hồn, và đẹp lòng Cha biết bao! Đó là việc cầu nguyện trong phòng nhỏ của sự biết mình và nhận biết Cha, với cái nhìn của trí tuệ mở rộng đón nhận ánh sáng đức tin, còn trái tim thì đầy tràn đức ái của Cha, một tình thương đã trở thành hữu hình nhờ Con Cha là Đấng Hữu Hình: Ngài đã tỏ bày đức ái ấy bằng Máu của mình.

Máu Thánh làm cho linh hồn say sưa và thiêu đốt nó bằng lửa của đức ái. Linh hồn nhận được lương thực là bí tích mà Cha đã để lại trong nhiệm thể Chúa Kitô là Hội Thánh. Bí tích này là Mình Máu Con Cha, Thiên Chúa thật và là người thật, Cha đã trao việc ban phát bí tích này vào tay người thay mặt Cha, kẻ giữ chìa khoá của kho báu này. Đó là lữ quán mà Cha đã nói với con trên kia, lữ quán được đặt trên cầu để bồi dưỡng các khách lữ hành, tăng sinh lực cho những khách bộ hành đi theo giáo lý của Đấng Chân Lý của Cha, để họ khỏi ngã quỵ vì kiệt sức (Xc số 11).

Lương thực này mang lại nhiều hay ít sức sống, là tùy sự ước ao của những người đón nhận, qua bí tích hay cách thiêng liêng. Người ta đón nhận lương thực này qua bí tích khi thực sự rước Mình Thánh Chúa; và người ta rước lễ cách thiêng liêng, khi chỉ ước ao rước Chúa vào lòng mình, hoặc bằng sự chiêm ngưỡng Máu Thánh Chúa Kitôchịu đóng đinh. Nhờ sự tưởng niệm Máu Thánh này, linh hồn được hiệp thông với đức ái của Cha: nó được hưởng đức ái này trong Máu Thánh, và nó nghiệm thấy Máu Thánh này đã đổ ra vì yêu thương. Trong đức ái của Cha, nó say sưa, bốc lửa ước ao và thấy mình tràn đầy yêu mến, không những đối với Cha mà còn đối với tha nhân nữa.

Người ta đạt được đức ái này ở đâu? Ở trong phòng nhỏ của sự tự biết mình, và nhờ lời cầu nguyện thánh thiện. Ở đó, linh hồn gột rửa mình khỏi sự bất toàn, theo gương Phêrô và các môn đệ, các ông ở trong nơi thanh vắng, canh thức và cầu nguyện, các ông đã rời bỏ được sự bất toàn của mình và đạt tới sự trọn lành. Bằng cách nào? Bằng sự vững tâm phối hiệp với đức tin rất thánh.

Tuy nhiên, con đừng vội tưởng sự sốt sắng và sức mạnh đó trong sự cầu nguyện, là hoa trái của lời cầu nguyện chỉ ngoài miệng, một cách cầu nguyện rất quen thuộc của nhiều linh hồn: họ cầu nguyện bằng môi miệng hơn là trong trái tim. Hình như họ đem mọi chú ý vào việc đọc cho thật nhiều Thánh Vịnh và kinh “Lạy Cha”. Khi họ đạt được con số kinh họ muốn đọc, xem ra họ đã thoả mãn, không nghĩ phải làm gì hơn nữa. Đó không phải là cách cầu nguyện. Nếu dừng lại ở đấy, linh hồn sẽ nhận được rất ít hoa trái của việc cầu nguyện, và Cha cũng chẳng nhận được bao nhiêu vinh dự. Con sẽ hỏi Cha: có nên bỏ việc cầu nguyện bằng miệng để cầu nguyện trong tâm trí chăng, vì không phải mọi người đều biết cầu nguyện bằng cách này? Không nên, nhưng có mực thước phải giữ.

Cha biết linh hồn bất toàn trước khi trở nên hoàn hảo, việc cầu nguyện cũng thế. Vậy, để nó đừng rơi vào tình trạng ngồi không khi nó còn bất toàn, nó phải cầu nguyện ngoài miệng, nhưng nó không được tách rời việc cầu nguyện ngoài miệng ra khỏi tâm trí. Trong khi đọc các lời, nó hãy cố gắng nâng cao tâm hồn, hướng lên tình thương của Cha, hướng lên tình thương của Cha, đồng thời suy nghĩ cách tổng quát về các lỗi phạm của nó, và tưởng niệm Máu Thánh của Con Một Cha, là nơi nó gặp thấy sự bao la của tình thương ở nơi Cha, cùng ơn tha thứ cho tội lỗi nó. Nó hãy làm như thế: khi đó sự biết mình và việc suy nghĩ về tội lỗi mình, sẽ làm cho nó nhớ lại tình thương như trời như biển của Cha, và nó tiếp tục làm việc cầu nguyện với sự khiêm nhường chân thật.

Cha không muốn gợi lại các tội của nó cách chi tiết, nhưng cách chung chung thôi, để tâm trí nó khỏi ra dơ nhớp bởi sự nhìn lại một số tội đáng xấu hổ của nó. Cha không muốn đâu, con nghe rõ chưa? Nó không được gợi lại hình ảnh về các tội đó, dầu cách riêng hay cách chung, mà không kèm theo sự tưởng niệm về Máu Thánh Con Cha và lòng thương xót lớn lao của Cha, kẻo nó rơi vào sự bối rối và bất an. Ma quỷ dùng cớ thống hối và ăn năn vì tội, để gieo rắc một sự bối rối và tạo nên một sự bất an cho linh hồn, nhằm đẩy linh hồn vào sự ngã lòng. Một khi không dựa vào cánh tay thương xót của Cha, linh hồn dễ rơi vào tuyệt vọng và đi tới diệt vong.

Đó là một trong những ảo tưởng tinh vi nhất, ma quỷ dùng để lừa các tôi tớ Cha. Bởi vậy, phải tránh xa cạm bẫy này của ma quỷ. Muốn thế và muốn đẹp lòng Cha, các con phải luôn luôn mở rộng trái tim và lòng yêu mến của các con đối với tình thương xót vô biên của Cha, trong sự khiêm nhường chân thành. Con nên biết, tính kiêu ngạo của ma quỷ phải đầu hàng một linh hồn khiêm nhường và cậy trông vào lòng nhân từ và thương xót bao la của Cha: chắc chắn nó phải chịu thua và rút lui.

Con nhớ không? Khi ma quỷ muốn dẫn con tới chỗ thất vọng, nó thuyết phục con bằng những lời, như rằng: cuộc đời của con đầy lỗi lầm, vì con đã chẳng bao giờ tuân theo và thực thi Thánh ý Cha. Con ơi, khi đó con hãy làm điều con phải làm, và lòng nhân hậu của Cha sẽ giúp sức cho con làm việc đó, bởi vì lòng nhân lành của Cha luôn luôn sẵn sàng cứu giúp các kẻ kêu cứu Cha. Con hãy khiêm nhường đến ẩn mình trong tình thương xót của Cha, con sẽ thưa: Con xin thú nhận với Đấng tạo dựng con rằng: tất cả cuộc đời con đã diễn ra trong tối tăm, nhưng con nấp mình trong các vết thương của Chúa Kitô chịu đóng đinh. Con sẽ tắm gội trong Máu Thánh Ngài; và như vậy, con sẽ tẩy sạch mọi tội lỗi của con, con sẽ hoan hỉ vì niềm ước ao trong Đấng Tạo dựng con.

Con biết, khi đó ma quỷ phải chạy trốn. Nhưng rồi, nó quay lại với một chước cám dỗ khác. Nó tìm cách đưa con lên bằng tính kiêu ngạo. Nó rỉ tai con: Mày đã trọn lành rồi, mày được đẹp lòng Thiên Chúa, mày không còn cần gì phải buồn rầu và khóc lóc lâu hơn vì tội lỗi mình. Khi ấy, Cha ban cho con ánh sáng để soi cho con biết đường lối phải theo. Con hạ mình xuống và trả lời ma quỷ rằng: Ôi, tôi là kẻ khốn nạn! Gioan Tẩy giả đã không bao giờ phạm một tội nào, ông đã được thánh hoá ngay trong lòng mẹ, vậy mà ông đã ăn năn đền tội rất nhiều. Phần tôi, tôi đã phạm biết bao tội lỗi, vậy mà tôi đã biết tội lỗi tôi chưa? Tôi đã thật lòng hối cải chưa? Bao giờ tôi mới hiểu được Thiên Chúa là Đấng nào, và tôi là vật gì mà dám xúc phạm đến Ngài?

Khi đó, không chịu nổi sự khiêm nhường của tâm hồn con, và lòng cậy trông của con vào sự nhân lành của Cha, ma quỷ phải hét lên: Đồ khốn nạn! Tao không làm gì được mày. Khi tao muốn hạ mày xuống bằng sự ngã lòng, thì mày nâng mình lên bằng sự cậy trông vào lòng thương xót; khi tao đưa mày lên cao bằng sự kiêu ngạo, thì mày lại hạ mình xuống đến vực thẳm khiêm nhường, và mày đuổi theo tao cho tới địa ngục. Tao không quay lại với mày nữa vì mày luôn luôn đánh đuổi tao bằng chiếc gậy của đức ái.

Vậy, linh hồn phải phối hiệp sự tự biết mình và nhận biết Cha bằng những lời đọc ngoài miệng. Bằng cách đó, sự cầu nguyện ngoài miệng sẽ có ích lợi cho nó và đẹp lòng Cha. Rồi với sự kiên tâm trong cầu nguyện, nó sẽ đi từ lời cầu nguyện bất toàn ngoài miệng tới việc cầu nguyện hoàn hảo trong trái tim. Nhưng nếu nó chỉ nghĩ đến việc đọc một số kinh, và nếu chỉ để tâm vào việc cầu nguyện ngoài miệng, mà thiếu việc cầu nguyện trong tâm hồn, thì không bao giờ nó đạt tới mức trọn lành đâu.

Nhiều khi linh hồn tỏ ra ngu xuẩn đến mức, nó chỉ lo đọc xong một số kinh nào đó, rồi không để ý đến Cha nữa. Cha tìm đủ cách đến thăm nó, bằng cách này hay cách khác đều vô ích, không gì ngăn lại việc nó đọc kinh. Có khi Cha gửi ánh sáng cho nó, để nó biết rõ mình hơn mà giục lòng ăn năn sám hối tội lỗi. Có khi Cha muốn nó hiểu thêm về tình thương của Cha. Nhiều lần khác, Cha đặt sự hiện diện của Cha trước tâm trí nó bằng nhiều cách khác nhau, tuỳ ý Cha, hoặc tuỳ theo sự ước muốn của nó. Nhưng vì nó chưa đọc xong các kinh của nó, nên nó bỏ qua việc Cha thăm viếng mà nó cảm thấy trong tâm trí nó, và nó sẽ cho là một vấn đề lương tâm nếu nó bỏ dở việc đọc kinh (Xc Lc 19:41-44).

Linh hồn không được làm như vậy, nếu nó không muốn trở thành đồ chơi của ma quỷ. Thoạt khi nó cảm thấy trong tâm trí: Cha sắp tới thăm nó theo những cách mà Cha vừa nói, thì nó phải bỏ ngay việc đọc kinh ngoài miệng. Rồi sau khi việc cầu nguyện trong tâm trí xong, nó có thể đọc tiếp các kinh đã định, nếu còn thời giờ. Trường hợp không còn thời giờ thì không phải lo lắng gì hết, không phải buồn phiền cũng không hề rối trí. Đó là cách thức nó phải hành động.

Tuy nhiên, phải trừ ra việc đọc Giờ Kinh phụng vụ mà các giáo sĩ và tu sĩ có nghĩa vụ phải đọc. Vì họ không đọc, họ xúc phạm đến Cha, vì họ có nghĩa vụ này cho đến chết. Nếu vào giờ vốn dành để đọc Giờ Kinh phụng vụ, họ cảm thấy tâm hồn được nâng lên và lôi kéo vào việc cầu nguyện trong tâm trí, thì họ phải tính toán để đọc Giờ Kinh phụng vụ hoặc trước, hoặc sau đó. Không bao giờ họ được bỏ qua việc đọc kinh có nghĩa vụ này.

Còn đối với tất cả các kinh khác, linh hồn bắt đầu bằng cầu nguyện ngoài miệng để đi tới việc cầu nguyện trong trái tim, thoạt khi nó cảm thấy tâm trí sẵn sàng cầu nguyện theo cách này, lúc ấy nó hãy ngưng việc đọc kinh ngoài miệng. Đọc kinh ngoài miệng theo cách Cha đã nói, sẽ dẫn tới việc cầu nguyện hoàn hảo. Vậy, không nên bỏ đọc kinh vì lẽ nọ lẽ kia, nhưng phải thi hành theo cách thức Cha đã dạy con. Cũng vậy, bằng sự tập tành và với sự kiên trì, linh hồn sẽ được hưởng niềm vui thánh thiện trong giờ cầu nguyện, và được nuôi dưỡng bằng Máu Con Một Cha.

Cha đã nói với con: một số người tham dự vào Mình và Máu Chúa Kitô cách thiêng liêng, không phải bằng bí tích, sẽ được hiệp thông với đức ái thần linh; họ được hưởng niềm vui trong việc cầu nguyện thánh thiện, nhiều hay ít là tuỳ theo tấm lòng ước ao củangười cầu nguyện. Ai cầu nguyện mà ít chú tâm, sẽ gặt hái ít, ai cầu nguyện mà chú tâm nhiều, sẽ gặt hái nhiều. Linh hồn càng cố gắng tập trung tâm tình của mình và kết hợp với Cha nhờ ánh sáng của trí tuệ, nó sẽ càng biết Cha hơn. Mà ai biết nhiều hơn, sẽ yêu mến nhiều hơn, và ai yêu mến nhiều hơn sẽ vui hưởng nhiều hơn sẽ được vui hưởng nhiều hơn. Vậy, không do đọc nhiều kinh mà người ta đạt tới việc cầu nguyện toàn hảo, nhưng do tâm tình hướng lên Cha và biết mình là hư vô. Phải luôn luôn liên kết sự nhận biết mình và nhận biết lòng nhân lành của Cha.

Như vậy, linh hồn có thể cùng làm việc đọc kinh ngoài miệng và cầu nguyện trong tâm trí. Người ta có thể hiệp nhất cả hai, có thể hiệp nhất đời sống hoạt động với đời sống chiêm niệm. Thật ra, có nhiều cách hiểu về việc đọc kinh ngoài miệng và cầu nguyện trong tâm hồn. Cha đã nói với con, lòng ước nguyện, nghĩa là một ý muốn tốt lành và thánh thiện, là một lời cầu nguyện liên tục. Ý muốn và sự ước ao này muốn được giãi bày vào ngày giờ hoặc ở một địa điểm nhất định hay chỉ định nào đó: những ý nguyện được thêm vào trong phụng vụ thường lệ hoặc bất thường. Việc cầu nguyện như vậy thường diễn ra vào trường hợp nhất định hay đặc biệt, tuỳ nhu cầu của đức bác ái đòi hỏi, hay vì ơn cứu độ các linh hồn, hoặc vì nhu cầu bậc sống của mình hay của tha nhân.

Thật thế, mỗi người, tuỳ theo bậc sống của mình, phải cộng tác vào việc cứu vớt các linh hồn, theo như Thánh ý Cha gợi hứng. Như vậy, mọi sinh hoạt bằng lời nói hay việc làm vì ơn cứu độ cho tha nhân, đều là một lời cầu nguyện đáng khen, nhưng nó không loại trừ lời cầu ngoài miệng được chỉ định vào ngày giờ hay địa điểm nào đó. Ngoài việc cầu nguyện thường xuyên có tính bắt buộc này, tất cả những gì người ta làm vì đức ái, cho tha nhân hay cho bản thân, kể cả những việc làm bề ngoài, miễn là người ta thực hiện với một ý muốn thánh thiện, đều là việc cầu nguyện (Xc Cl 3:17). Hợp ý với vị tông đồ vinh hiển Phaolô, khi ông nói: “Người không ngừng làm việc thiện, là người không ngừng cầu nguyện” (Xc 1Tx 5:17).

Bởi vậy, Cha đã nói với con, có nhiều cách cầu nguyện khi phối hiệp việc cầu nguyện ngoài miệng với việc cầu nguyện trong tâm hồn. Phải hiểu việc cầu nguyện là như thế, phải thực hiện với tâm tình yêu mến, mà tâm tình yêu mến chính là cầu nguyện liên tục (Xc Rm 8:26). Cha đã giải thích cho con: người ta đạt tới việc cầu nguyện trong tâm trí nhờ luyện tập và kiên trì, phải bỏ việc cầu nguyện ngoài miệng để lo việc cầu nguyện trong tâm trí, khi Cha đến viếng thăm linh hồn. Cha cũng đã giải thích cho con nghe: thế nào là cầu nguyện nói chung, thế nào là cầu nguyện bằng miệng ngoài những giờ ấn định, thế nào là cầu nguyện bằng ý muốn tốt lành và thánh thiện, và tại sao mọi việc lành người ta làm cho mình hay cho tha nhân với ý muốn ngay lành và thánh thiện, đều là cầu nguyện.

Vậy linh hồn hãy cầm trí và ra sức giục mình cầu nguyện, vì cầu nguyện là mẹ sinh ra nhân đức. Linh hồn muốn làm việc này cho nên, thì phải khép mình trong căn phòng của sự tự biết mình, và có lòng mến yêu với tâm tình bạn hữu và con cái. Nếu nó bỏ qua những phương cách mà Cha đã chỉ bảo, nó sẽ không bao giờ ra khỏi tình trạng nguội lạnh và bất toàn, nó chỉ yêu mến khi tìm được nơi Cha hoặc nơi tha nhân một lợi ích hay niềm vui cho mình mà thôi.

Sự sai lầm của những kẻ thế gian chỉ yêu mến và phụng sự Thiên Chúa, để được an ủi.

  1. Vấn đề lòng yêu mến bất toàn, Cha muốn nói với con về cái ảo tưởng của những kẻ yêu mến Cha, vì tìm được trong đó một sự an ủi. Con nên biết: khi các tôi tớ Cha yêu mến Cha cách bất toàn như thế, là vì họ đã không tìm kiếm Cha cho bằng tìm lấy được niềm an ủi cho mình. Có thể lấy dấu này để làm chứng, đó là thoạt khi mất đi những sự an ủi thiêng liêng hay trần thế, họ liền đâm ra rối trí.

Nhất là nhứng người ngoài đời, họ tha thiết với những an ủi thế gian, họ chỉ thực thi một số việc đạo đức bao lâu họ còn ở trong cảnh thịnh vượng. Nhưng khi gặp những bất trắc mà Cha gửi đến để giúp chọ tiến bộ, thì họ liền thôi làm một chút việc lành họ vốn quen làm. Hãy hỏi họ tại sao lại có sự kiện như vậy, họ sẽ trả lời: “Bởi vì tôi đang đau khổ. Chút việc lành tôi đã làm trước kia coi như uổng công, cho nên tôi không còn lòng trí nào để làm như trước nữa. Chính sự khổ tâm làm nên cơ sự này, vì trước kia có lẽ tôi đã hành xử tốt hơn, cách bình an và yên tâm hơn bây giờ”.

Những kẻ nói như thế đã bị lừa dối nặng nề, bởi đi tìm kiếm sự thoả thích cho mình. Không phải vì gian truân hay thử thách mà tình yêu mến của chúng vơi đi và việc lành ít đi. Những việc lành người ta làm trong thời gian khốn quẫn cũng giá trị, bằng những việc người ta làm khi yên lành, mà có thể còn giá trị hơn, nếu người ta có thêm sự nhẫn nại. Sự thật là, chúng đã đặt niềm vui của chúng vào sự may mắn thịnh vượng của thế gian. Chúng yêu mến Cha vì đạo đức thì ít, mà vì được an vui thì nhiều, chúng coi chút việc đạo đức làm đủ. Khi chúng vừa mất đi niềm an vui ấy, thì chúng cũng mất luôn hứng thú trong việc thực thi các việc lành nhân đức.

Thật là một sai lầm! Giống như một người có mảnh vườn đẹp. Người này vui sướng ở trong vườn và vun xới vườn mỗi ngày, tưởng mình có cái thú làm vườn, nhưng thực ra anh ta chỉ thích thú mảnh vườn. Một biến có đã đến, để soi sáng sự thật tâm trạng của anh. Anh ta bị mất cái vườn, và từ nay anh không thích làm vườn nữa. Nếu thật sự anh ấy có cái thú làm vườn, thì anh ta vẫn có cái thú làm vườn đó, cho dầu mảnh vườn không còn nữa. Cũng vậy, những ai yêu mến nhân đức hơn những an ủi bên ngoài, họ không bỏ hay sao nhãng việc lành phúc đức, mỗi khi nghịch cảnh xảy đến; họ không giống anh chàng mất vườn nói trên.

Vậy sự tìm kiếm những thỏa thích cho bản thân thường dẫn người ta đi lạc đường, và lừa dối những kẻ hành động theo thói thế gian. Chúng nói: trước kia tôi ăn ở tốt lành và được yên vui, nay thì phải thử thách đủ điều. Hồi ấy, tôi vui thích khi làm việc lành, bây giờ thì chẳng cảm thấy gì hết, không thích thú gì cả. Sự phán đoán của chúng cũng sai lầm như những lời của chúng! Nếu chúng đi tìm sự yên vui trong việc lành, vì yêu thích việc lành và yêu mến nhân đức, chắc chắn chúng đã không mất hứng thú như vậy, trái lại hứng thú đã phát triển và gia tăng. Nhưng vì chúng làm việc lành chỉ vì sự thoả thích cảm giác, cho nên dễ hiểu chúng đã chán nản và sớm tháo lui. Đó là ảo ảnh mà nhiều Kitôhữu đã rơi vào trong việc thực thi các nhân đức. Họ tự lừa dối mình, khi đi tìm ý riêng.

Sự sai lầm của những tôi tớ Chúa, còn yêu mến Thiên Chúa bằng đức mến bất toàn.

  1. Những tôi tớ của Cha còn ở trong lòng mến bất toàn này, sẽ tìm kiếm và yêu mến Cha vì được an ủi và niềm vui ở nơi Họ biết Cha trả công mọi việc lành người ta làm, nhiều hay ít tuỳ mức độ lòng mến của mỗi người. Cha ban cho họ niềm an ủi thiêng liêng, khi cách này, khi cách khác, trong giờ cầu nguyện. Cha làm như thế, không phải để các linh hồn ngu xuẩn sử dụng những an ủi đó cách không nên, nghĩa là thay vì yêu mến Cha trên hết, họ lại tha thiết với những an ủi đó hơn Cha, là Đấng thi ân. Không, điều Cha muốn họ suy nghĩ lại là, chỉ vì lòng yêu thương mà Cha đã ban ơn ấy cho họ mặc dầu họ bất xứng, thay vì chỉ nghĩ đến sự vui hưởng của những an ủi mà họ nhận được. Nhưng nếu sự ngu xuẩn làm cho họ chỉ tha thiết với sự vui thích của mình, mà không nhìn gì đến tình thương của Cha đối với họ, họ sẽ rơi vào chỗ bất hạnh và lầm lạc, như Cha sẽ nói với con đây.

Sự lầm lạc thứ nhất, là bị lừa dối bởi tìm kiếm cho được an ủi; có thể họ sẽ vui sướng hơn mức thường về sự hiện diện của Cha, một sự hiện diện Cha đặc biệt ưu đãi họ. Khi Cha rời bỏ họ, thì thay vì tiếp tục tiến lên, họ đã quay lại đằng sau, tưởng rằng sẽ tìm thấy niềm vui như trước trên con đường mà họ đã đi trước kia. Nhưng Cha không muốn người ta có thể nghĩ rằng: Cha chỉ có một cách để trao ban. Những ân huệ này Cha ban cho các linh hồn theo nhiều cách khác nhau, tuỳ ý Cha, và tuỳ theo nhu cầu của mỗi linh hồn. Nhưng trong sự ngu muội, họ muốn lúc nào cũng phải có cho được niềm an ủi đó, y như thể họ muốn ra luật cho Chúa Thánh Thần. Họ không nên hành động như vậy; họ phải qua cầu giáo lý của Chúa Kitô chịu đóng đinh một cách cương quyết, can đảm, và đón nhận mọi hồng ân của Cha theo mức, vào lúc hay nơi chốn nào Cha muốn. Nếu như Cha không muốn ban cho họ ân huệ đó nữa, thì không phải vì Cha ghét họ, nhưng vì thương mà Cha từ chối. Đó là để họ tìm kiếm Cha thật sự, đừng chỉ yêu mến Cha vì được an vui; và để họ khiêm nhường đón nhận đón nhận tình thương của Cha, hơn là niềm vui trong đó. Nếu họ hành động cách khác, nếu họ đi tìm sự thoả thích cho họ theo cách họ ưa thích, chứ không theo cách Cha muốn, họ sẽ gặp đau khổ và bối rối không kham nổi, mỗi khi thấy mất đi nguyên nhân của niềm vui.

Đó là những kẻ chỉ tìm kiếm thứ an ủi theo ý mình. Một lần được vui thoả trong niềm vui thiêng liêng do Cha ban cho, họ không muốn xa rời niềm vui đó trong cuộc hành trình của mình. Đôi khi họ còn tỏ ra ngu muội đến mức, khi Cha đến thăm viếng họ một cách khác, họ cưỡng lại và không chấp nhận hồng ân mới này; họ cứ muốn có mãi thứ hồng ân mà họ tưởng tượng. Thế là vì họ bám chặt lấy không muốn buông ra sự vui khoái thiêng liêng, mà tâm hồn họ đã một lần gặp thấy nơi Cha. Thật là sai lầm.

Họ sai lầm dường nào! Linh hồn không thể cứ ở luôn mãi trong một tình trạng. Nó không thể đứng bất động trên đàng nhân đức; nó phải tiến hoặc lùi. Cũng vậy, tâm trí không thể cố định ở trong Cha với một niềm vui duy nhất, đến nỗi Cha không thể ban cho nó niềm vui nào khác. Trái lại, Cha đổi mới niềm vui hưởng đó bằng nhiều cách. Lúc thỉ Cha cho linh hồn hưởng niềm vui mừng ân sủng thiêng liêng; lúc Cha gửi đến sự đau đớn và hối hận, làm xáo động tâm hồn nó tận căn; đôi khi Cha ở trong linh hồn mà nó không nghiệm thấy Cha. Những khi khác, Cha muốn tỏ bày Đấng Chân Lý của Cha, tức Ngôi Lời nhập thể, dưới những hình thức khác nhau trước con mắt trí tuệ của nó, nhưng nó như thể không cảm thấy sự sốt sắng và niềm vui trong việc chiêm ngắm này. Nhiều khi khác, nó không thấy gì hết, nhưng lại được nếm một sự ngọt ngào hạnh phúc lớn lao.

Cha làm tất cả những điều này vì tình thương để giúp nó duy trì và gia tăng đức khiêm nhường và đức kiên nhẫn, để dạy nó đừng muốn đặt ra những luật lệ cho Cha, đừng đặt cùng đích của mình vào những sự an ủi, nhưng nơi nhân đức được xây nền trong Cha, và để nó khiêm tốn đón nhận mọi tình trạng do Cha gửi đến, Cha muốn nó đón nhận tình thương của Cha với lòng mến yêu. Nó hãy xác tín rằng: mọi hành động của Cha chỉ vì ơn cứu độ cho nó, hoặc vì nhu cầu cho sự trọn lành của nó. Vậy, nó phải đứng vững trong sự khiêm nhường, lấy tình thương của Cha làm nguyên lý và cứu cánh. Như vậy, trong tình thương của Cha, nó sẽ nhận được niềm vui, kể cả những lúc mất niềm vui ấy, tuỳ theo Thánh ý Cha, chứ không phải theo ý nó.

Phương thế duy nhất để các tôi tớ Cha tránh được mọi sự lừa dối của kẻ thù, là đón nhận mọi sự vì lòng yêu mến Cha, vì Cha là cùng đích của họ, và họ phải luôn luôn dựa vào Thánh ý dịu hiền của Cha.

Về những kẻ bỏ việc phục vụ tha nhân, để khỏi mất đi sự an ủi.

  1. Con rất yêu dấu của Cha, Cha đã nói với con về những kẻ muốn được vui hưởng Cha theo cách của chúng, và đón nhận Cha vào tâm hồn chúng theo cách của mình. Bây giờ, Cha muốn nói cho con biết, về những kẻ đặt tất cả niềm vui của mình vào sự an ủi nội tâm. Đến nỗi, nhiều khi họ gặp tha nhân gặp khó khăn về tinh thần hay vật chất, họ cũng không động lòng tra tay giúp đỡ, vịn cớ đang bận việc đạo đức. Họ nói: “Tôi không muốn làm, vì như thế tôi sẽ mất sự bình an, và ngăn trở tôi đọc các kinh thường ngày”.

Họ tưởng làm mất lòng Cha vì mất đi sự yên ủi và yên tĩnh nội tâm. Sự ích kỷ này làm họ sai lầm quá đỗi! Sự thật, họ đã làm phiền lòng Cha vì không cứu giúp tha nhân, hơn là vì bỏ cầu nguyện và mất đi sự thinh lặng suy gẫm (Xc Mt 25:45). Tất cả việc tập tành nhân đức, tất cả mọi việc cầu nguyện ngoài miệng hay trong tâm hồn, đều do Cha xếp đặt, để hướng dẫn linh hồn tới đức ái trọn lành đối với Cha và với tha nhân, cũng như để duy trì đức ái. Như vậy, họ làm phiền lòng Cha vì bỏ qua việc bác ái đối với tha nhân, để làm việc đạo đức bên ngoài, hoặc để củng cố sự yên tĩnh tâm hồn, chứ không phải vì từ bỏ các việc đạo đức ấy để thương giúp tha nhân. Điều chắc chắn, là họ sẽ được gặp Cha khi phục vụ tha nhân, còn như họ chỉ lo tìm kiếm và duy trì niềm vui thiêng liêng ở nơi Cha, họ sẽ đánh mất Cha. Khi từ chối giúp đỡ tha nhân, họ đã làm suy giảm đức ái, nhân đó tình thương của Cha đối với họ cũng giảm đi, và tình thương của Cha và sự an ủi cũng giảm theo. Như vậy, người ta đã thua thiệt khi tưởng mình có lợi, và người ta sẽ có lợi lớn khi chịu thiệt đôi chút. Ai sẵn sàng mất đi những sự an ủi thiêng liêng vì ơn cứu độ cho tha nhân, sẽ nhận được Cha làm phần thưởng: Cha mới là mối lợi của họ. Vì cứu giúp tha nhân bằng cách phục vụ tha nhân trong tình bác ái, người ta sẽ luôn luôn được nếm sự ngọt ngào tình thương của Cha (Xc Mt 16:25; Mc 8:35).

Trái lại, kẻ không muốn từ bỏ sự an thân cũng như sự an ủi, sẽ rơi vào bối rối, vì đôi khi người ta buộc phải cứu giúp tha nhân; vì tình thương, vì đức vâng lời hoặc vì sự cấp bách, người ta có bổn phận phải cứu giúp các bệnh tật thể xác hoặc thiêng liêng của người khác. Nhưng lúc đó, kẻ ấy chỉ làm cách miễn cưỡng với tâm trí bối rối và lương tâm bất an; nó trở thành người khó chịu nổi cho bản thân và cho nhiều người khác.

Hãy hỏi họ, tại sao buồn rầu đến thế? Họ sẽ trả lời: “Tôi có cảm tưởng đã đánh mất sự bình an và thanh thản của tâm trí. Tôi đã bỏ qua không làm một số việc lành quen làm”. Họ tưởng mình đã mất lòng Thiên Chúa, không phải thế đâu. Sự thật là, họ chỉ muốn mình được yên tĩnh, họ không phân biệt, không nhận ra đâu là lỗi của họ. Với một chút hiểu biết, họ sẽ thấy họ không có lỗi gì hết khi mất đi sự an ủi thiêng liêng hay phải bỏ việc cầu nguyện, trong lúc mà nhu cầu của tha nhân đòi hỏi họ; nhưng họ có lỗi là vì thiếu bác ái đối với tha nhân, mà họ phải thương yêu và phục vụ vì lòng mến Cha. Bây giờ con mới thấy, linh hồn đã tự lừa dối mình và chỉ lừa dối mình thôi, bởi tính tự ái thiêng liêng của nó.

Về sự lầm lạc của các kẻ đặt tất cả tâm tình vào sự được an ủi và thị kiến.

  1. Đôi khi tính tự ái thiêng liêng này gây một tai hại lớn lao cho linh hồn, khi linh hồn chỉ bám vào các sự an ủi và thị kiến, mà Cha thường ưu đãi các tôi tớ Cha. Thoạt khi họ mất những an ủi và thị kiến đó, họ rơi vào cảnh rầu rĩ và chán nản. Họ có cảm tưởng như đã mất ân sủng, khi Cha rút lui khỏi tâm hồn họ. Như Cha đã nói với con, Cha ra đi và Cha sẽ trở lại trong linh hồn, không phải Cha rút đi ân sủng của Cha, nhưng chỉ rút đi phần tình cảm có được trong ân sủng thôi, để dẫn đưa linh hồn tới bậc trọn lành. Chính lúc đó, linh hồn đâm ra buồn sầu, nó tưởng mình đã rơi xuống hoả ngục, vì cảm thấy mất niềm vui trước đó, và nó bị nhiều chước cám dỗ tấn công.

Phán đoán như vậy, thật ngu xi dường nào! Linh hồn đã để mình bị lừa dối bởi tính tự ái thiêng liêng! Nó biết về sự thật quá ít. Tuy nhiên, nó phải biết: Cha ở trong nó và chỉ mình Cha là Sự Thiện tối cao. Chính Cha giữ gìn ý chí nó đứng vững trong lúc chiến đấu, và ngăn cản nó đừng chạy theo ý riêng mình.

Đáng lẽ, nó phải hạ mình xuống, biết mình không xứng đáng được bình an và thanh thản tâm hồn. Cha rút lui khỏi nó là vì mục đích ấy. Cha muốn dẫn nó tới chỗ tự hạ mình và nhận ra tình thương của Cha đối với nó, và đã gìn giữ nó vững ý chí tốt lành trong các cơn cám dỗ. Cha không muốn nó chỉ ưa thích sữa của sự dịu hiền mà Cha đã từng cho nó uống, nhưng nó cần phải bám vào ngực của Đấng Chân Lý dịu hiền của Cha, nghĩa là Cha muốn nó nhận lấy sữa cùng với thịt, sữa tình thương của Cha và thịt của Chúa Kitô chịu đóng đinh (Xc Dt 5:11-14). Cha đã dùng giáo lý của Ngài làm cây cầu, hầu người ta qua đó mà đến với Cha. Đó là lý do tại sao Cha rút lui khỏi các tôi tớ của Cha.

Nếu họ tiến bước theo đức khôn ngoan, nếu họ không quá ngu xuẩn để chỉ đòi uống sữa và an ủi, Cha sẽ trở lại trong linh hồn họ với nhiều êm dịu hơn, nhiều sức mạnh hơn, nhiều ánh sáng hơn, và với một tình thương nồng nhiệt hơn. Nhưng nếu họ cảm thấy chán nản, buồn rầu và bối rối vì mất sự ngọt ngào thiêng liêng, chỉ rút ra được đôi chút lợi ích bởi sự vắng mặt của Cha, rồi cứ thế mãi trong tình trạng nguội lạnh.

Về những kẻ bám vào sự an ủi và thị kiến thiêng liêng: họ có thể bị lừa dối bởi ma quỷ hiện hình thiên thần sáng láng. Những dấu hiệu để nhận ra một thị kiến, do Thiên Chúa hay do ma quỷ.

  1. Tính tự ái thiêng liêng cũng làm cho linh hồn dễ mắc bẫy của ma quỷ, lấy hình thiên thần sáng láng. Đúng vậy, ma quỷ dò xét tâm tư của linh hồn, nhằm điều chỉnh sự cám dỗ của nó theo sở thích của linh hồn. Nếu nó thấy linh hồn say mê ước ao những sự an ủi và thị kiến thiêng liêng, mà lẽ ra linh hồn không nên ham, nhưng chỉ nên bám lấy nhân đức, khiêm nhường nhận mình không xứng đáng các ân huệ thần linh, mà Cha ban cho vì tình thương, thì ma quỷ sẽ mặc lấy hình ảnh sáng láng đến với linh hồn đó. Lúc thì lấy hình một thiên thần, lúc thì lấy ảnh Con của Cha, hoặc mặc lấy hình một vị thánh nào đó, và nó tìm cách câu linh hồn ấy bằng những thú vui thiêng liêng, mà linh hồn đã được gặp trong thị kiến hay trong một sự hân hoan trong tâm hồn.

Nếu khi đó, linh hồn lấy lòng khiêm nhường chân thật, để khinh chê và gạt đi tất cả những niềm vui được ban cho, nó sẽ mắc câu và rơi vào tay ma quỷ. Trái lại, nếu linh hồn khiêm nhường gạt bỏ sự vui khoái này, nếu nó đem hết tâm tình và lòng mến để chỉ ước muốn Cha là Đấng ban ơn, thay vì bám lấy ân huệ hay an ủi, khi đó ma quỷ sẽ bị đánh bại, bởi sự kiêu ngạo không thể đứng vững trước một tâm hồn khiêm nhường.

Con hỏi: lấy dấu nào để nhận biết sự an ủi đó do ma quỷ, chứ không do Cha. Cha trả lời: dấu hiệu sự an ủi đến từ ma quỷ mặc lốt thiên thần sáng láng, là khi không bỗng linh hồn nhận được từ sự thăm viếng ấy một sự vui sướng mãnh liệt, nhưng sự vui sướng này mỗi lúc mỗi giảm, càng lâu càng giảm, và nó để lại đàng sau một sự buồn rầu, sự tối tăm, sự u tối của tâm trí, khiến tâm trí cảm thấy như một sự cắn rứt hối hận.

Nếu là Cha, Đấng Chân Lý vĩnh cửu, đến viếng thăm linh hồn, thì lúc đầu nó cảm thấy một sự sợ hãi thánh thiện; nhưng tiếp theo sự kính sợ này là niềm vui thoả, một sự an bình, một sự khôn ngoan dịu dàng, khiến nó như nghi hoặc mà không nghi hoặc. Trong sự biết mình, nó tự nhận không xứng đáng được ơn huệ này. Nó sẽ nói: “Lạy Thiên Chúa của con, con không xứng đáng được Chúa viếng thăm. Con bất xứng mà làm sao lại xảy ra như thế này?”. Nó sẽ náu mình trong vực thẳm tình thương của Cha; nó biết Cha có thể ban cho như Cha muốn, chứ không chấp sự bất xứng của nó nữa, nhưng Cha là Đấng làm cho nó trở nên xứng đáng đón nhận ân sủng Cha ban, và nghiệm thấy Cha hiện diện trong nó, vì Cha không khinh chê lòng ao ước của nó kêu gọi Cha. Ân sủng của Cha sẽ chuẩn bị nó đón tiếp Cha. Khi ấy, nó sẽ thưa cách khiêm nhường rằng: “Này, con là nữ tỳ của Chúa, xin Ngài cứ làm cho con theo ý Ngài” (Lc 1:38).

Như vậy, khi linh hồn thôi cầu nguyện và cuộc viếng thăm của Cha đã kết thúc, nó sẽ giữ được niềm vui và một sự ngọt ngào lớn lao trong tâm hồn. Đức khiêm nhường dạy nó hiểu biết sự bất xứng của nó, bảo nó biết tất cả những ơn nó nhận được, là do tình thương của Cha. Đó là dấu, để phán đoán linh hồn đã nhận được sự thăm viếng của Cha, hay của ma quỷ. Nếu là Cha viếng thăm, thì lúc đầu linh hồn cảm thấy sợ hãi, nhưng quãng giữa và phần cuối là niềm vui và ước ao nhân đức. Nếu là ma quỷ viếng thăm, linh hồn sẽ khởi đầu bằng vui sướng và kết thúc trong rối trí và tối tăm thiêng liêng.

Cha đã chỉ cho con biết cách phân biệt, để từ nay các linh hồn muốn bước đi cách khiêm nhường và khôn ngoan sẽ không bị lừa dối. Nhưng linh hồn sẽ không tránh được cạm bẫy này, nếu như nó chỉ muốn được hướng dẫn bởi lòng mến bất toàn, tức yêu thích những an ủi bản thân hơn là yêu mến Cha.

Linh hồn tự biết mình đúng cách, sẽ khôn ngoan tránh được tất cả mọi sự lừa dối của ma quỷ.

  1. Con rất yêu dấu của Cha, Cha không muốn giấu con, sự lầm lạc thường xảy đến, cho những kẻ để mình bị lừa dối bởi tính tự ái vì đã làm được một ít việc lành đạo đức, và vì một chút điều thiện làm trong thời gian thịnh đạt.

Cha cũng đã nói cho con hiểu về tính tự ái thiêng liêng, ưa thích sự an ủi nội tâm, khiến các tôi tớ Cha bị sai lầm. Cha đã tỏ cho con thấy họ sai lầm ở chỗ nào, và tại sao sự ham muốn những niềm vui tinh thần đó, đã ngăn cản họ nhận ra tình thương đích thực của Cha, cản trở sự phân biệt đâu là tội lỗi và thế nào là cạm bẫy ma quỷ lôi kéo họ vào tội lỗi. Cha đã nói với con tất cả những điều ấy, để con và các tôi tớ Cha, hãy bước đi ngay thẳng trên đường nhân đức chỉ vì yêu mến Cha, chứ không tìm kiếm sự gì khác. Những kẻ có lòng mến bất toàn, họ yêu mến Cha vì những ân huệ Cha ban, chứ không phải vì Cha là Đấng ban các ân huệ ấy; họ dễ sa vào tai họa này, nhiều khi họ thực sự đã sa vào.

Nhưng một linh hồn đã thực sự bước vào tỏng căn nhà của sự biết mình, để chuyên chăm cầu nguyện ở trong đó, nó sẽ thoát khỏi lòng yêu mến bất toàn và sự cầu nguyện bất toàn, như Cha đã giải thích cho con khi nói viề việc cầu nguyện (Xc số 66). Nó sẽ đón nhận Cha bằng tâm tình mến yêu, tìm cách rút lấy sữa của sự an ủi ngọt ngào từ nơi ngực giáo lý của Chúa Kitô chịu đóng đinh. Và như thế, nó đạt tới bậc thứ ba, tức là bậc mến yêu của người bạn, của người con, nó không còn sự mến yêu của kẻ làm thuê nữa. Giữa linh hồn đó và Cha, từ nay chỉ có mối quan hệ của đôi bạn hữu. Nó xử sự với Cha như người bạn với người bạn. Nếu nó nhận được món quà, nó sẽ không chỉ nhìn vào món quà, mà còn nhìn vào trái tim, nhìn vào tâm tình của người cho quà; nó chỉ trọng món quà vì lòng tốt của người bạn.

Một linh hồn đã đạt tới bậc thứ ba, bậc của lòng mến yêu trọn hảo, cũng xử sự như thế. Khi nhận được các ân huệ và ân sủng của Cha, nó không chỉ nhìn vào ân ban, nhưng con mắt trí tuệ nó còn nhìn vào tình thương của Cha, nhìn vào Cha là Đấng ban ơn. Để linh hồn không còn có thể chữa mình được nữa, Cha đã liên kết Đấng ban ơn với ơn Cha ban, vì Cha đã kết hợp bản tính thần linh với bản tính nhân loại: hồng ân mà Cha ban cho các con, chính là Ngôi Lời Con Một của Cha, Ngài với Cha là một cũng như Cha với Ngài cũng là một. Vì sự kết hợp này, các con không thể nhìn vào hồng ân mà không nhìn thấy Cha là Đấng ban ơn.

Vậy, các con hãy hiểu: mình phải cùng một lúc yêu mến và ước ao ân ban và Đấng ban ơn. Nếu các con làm như thế, lòng mến yêu của các con sẽ không còn là lòng mến của kẻ làm thuê, nhưng là một lòng mến yêu tinh tuyền, một lòng mến yêu không có tì vết, lòng mến yêu của những kẻ luôn khép mình trong phòng nhỏ của sự biết mình.

Làm thế nào để linh hồn từ bỏ sự yêu mến bất toàn, để đạt tới sự mến yêu hoàn hảo.

  1. Trên đây, bằng nhiều cách khác nhau, Cha đã bày tỏ cho con biết: làm thế nào để linh hồn thoát ra khỏi sự bất toàn và vươn lên bậc yêu mến hoàn hảo, và linh hồn phải làm gì khi đã đạt tới tình yêu mến của bạn hữu, lòng yêu mến của con cái. Cha đã bảo con, và nay Cha nhắc lại: linh hồn đạt tới lòng mến yêu đó nhờ sự kiên trì, khép mình trong ngôi nhà của sự tự biết mình. Sự biết mình này phải kèm theo sự nhận biết Cha, để nó đừng rơi vào sự rối trí rối lòng. Sự biết mình này sẽ dạy cho nó biết từ bỏ sự yêu mình theo tình cảm, và chê ghét xu hướng của tình cảm đòi sự an ủi bản thân.

Sự chê ghét này được đặt nền trên đức khiêm nhường và sẽ sinh ra đức nhẫn nại; nhờ đó, linh hồn trở nên mạnh mẽ, chống lại mọi sự tấn công của ma quỷ, chống lại những bách hại của thế gian, và nó cũng sẽ nhẫn nhục đối với Cha, khi Cha đã rút đi những niềm vui thiêng liêng, vì ích lợi của nó. Nhân đức này sẽ giúp nó chịu đựng mọi thiếu thốn và khó khăn.

Nếu trong một cơn thử thách nào đó, dục tình muốn cất đầu lên chống lại lý trí, thì quan toà là lương tâm sẽ đứng dậy chống lại nó, và dẹp đi mọi cử chỉ có tội. Bởi vì linh hồn lành thánh không ngừng sửa mình, và luôn luôn hãm dẹp không những mọi xáo động lý trí, mà đôi khi cả những xao động xảy ra từ phía Cha. Đó là điều Grêgôriô, đầy tớ tốt lành của Cha, đã muốn dạy, khi ông nói: một lương tâm thánh thiện và trong sạch gặp thấy tội cả những nơi không có tội, nghĩa là vì lương tâm rất trong sạch, nó thấy mình có lỗi cả khi không có lỗi. Một linh hồn muốn ra khỏi sự bất toàn của mình phải làm như vậy: nó phải ở trong căn nhà nhỏ của sự biết mình, chờ lệnh của Đấng Quan Phòng, dưới ánh sáng đức tin; như các môn đệ đã không đi đón Chúa Thánh Thần đến, nhưng tự khép mình trong nhà tiệc ly, và kiên trì ở trong đó cách khiêm nhường, tỉnh thức và cầu nguyện liên tục (Xc Cv 1:13-14).

Đấy là những gì linh hồn phải làm trước khi ra khỏi chỗ bất toàn, nó khép mình trong ngôi nhà cầu nguyện, để đạt tới bậc hoàn thiện. Ở đấy, nó tỉnh thức, cặp mắt trí tuệ luôn mở rộng nhìn vào giáo lý của Đấng Chân Lý khiêm hạ của Cha, mà nó đã nhận thấy nơi bản thân; nó ở trong vị thế cầu nguyện liên tục, lời cầu nguyện của lòng ước ao thánh thiện và chân thành; như vậy nó sẽ nghiệm thấy tình thương của Cha.

Cám ơn sự hỗ trợ, động viên để duy trì và phát triển website. Mọi đóng góp xin gửi về:
Người nhận: Hoàng Nhật Minh
Số tài khoản: 103873878411
Ngân hàng: VietinBank

Bài Trước Đó Bài Tiếp Theo

Thư Viện Sách NóiTủ Sách Tâm Linh