Đối Thoại Của Thánh Catarina Sienna: Chương 3. Chúa Cha Thương Xót Hội Thánh P2

ĐỐI THOẠI CỦA THÁNH CATARINA SIENNA: CHƯƠNG 3. CHÚA CHA THƯƠNG XÓT HỘI THÁNH P2

Tóm lược những điều đã nói về Giáo Hội và các thừa tác viên của Chúa.

  1. Con rất yêu dấu của Cha, Cha đã nói với con một ít điều về người ta phải trọng kính những vị đã được xức dầu của Cha, mặc dầu họ có những lỗi lầm. Nhưng dấu hiệu của sự trọng kính đó không dành cho họ vì bản thân họ, nhưng vì quyền bính mà Cha đã trao cho họ. Những khuyết điểm của họ không làm sút giảm hay phân hoá mầu nhiệm của bí tích cao trọng này, thì người ta cũng không được giảm bớt sự trọng kính phải có đối với họ, không phải vì bản thân họ, nhưng vì kho báu là Máu Thánh đã được uỷ thác cho họ.

Còn về những kẻ đã hành động ngược lại, Cha chưa nói gì nhiều về sự Cha phẫn nộ đối với hành vi của chúng, và về tai hoạ chúng tự tạo cho mình. Khi chúng khinh chê và bách hại Máu Con Cha, chúng đã liên minh với ma quỷ để chống lại Cha; do liên minh này, chúng đã tự đặt mình làm nô lệ của ma quỷ.

Cha có tâm sự này với con, là để khuyến khích con hãy than khóc về tội ác này; đó là tội ác của những kẻ bách hại Hội Thánh. Cha cũng muốn con chú ý tổng quát đến tất cả những Kitô hữu đang sống trong tội trọng: chúng khinh chê Máu Thánh Con Cha và làm cho mình mất đi sự sống của ân sủng. Tất cả những kẻ đó đều làm sỉ nhục Cha, nhưng tội nặng nhất vẫn là tội của những người mà Cha vừa nói cách riêng với con.

Về bậc trọn lành, và về những nhân đức, những công việc tốt lành của các linh mục thánh thiện. Họ có đặc tính của mặt trời, và phương cách này họ sửa dạy kẻ dưới quyền.

  1. Để mang lại cho linh hồn con một chút an ủi, và làm dịu đi nỗi đau đớn mà sự tối tăm của những kẻ bất trung đã gây nên cho con, bây giờ Cha sẽ nói với con về đời sống thánh thiện nơi các thừa tác viên của Cha, những người mà Cha đã nói là có phẩm chất của Mặt Trời. Hương thơm nhân đức của họ đã đánh tan mùi hôi thối của tội lỗi, và ánh sáng của họ soi sáng những tối tăm của nết xấu. Như vậy, nhờ ánh sáng này, con sẽ hiểu rõ hơn về cảnh tối tăm và những lỗi lầm của các thừa tác viên xấu của

Con hãy mở mắt trí tuệ ra, nhìn thẳng vào Cha là Mặt Trời công chính! Con sẽ thấy: các thừa tác viên trung thành của Cha đã ban phát Mặt Trời, và khi phục vụ họ đã nhận được phẩm chất của Mặt Trời. Những gì Cha đã trình bày với con về Phêrô, thủ lãnh các tông đồ, người đã lãnh nhận chìa khoá Nước Trời, Cha cũng nói như vậy về những người khác, tức là những người ở trong vườn Hội Thánh, đã phân phát Ánh Sáng, tức Mình và Máu Con Cha: Ngài là Mặt Trời luôn hiệp nhất với Cha và không bao giờ rời khỏi Cha. Tất cả các bí tích khác trong Hội Thánh chỉ có giá trị và ban sự sống nhờ thần lực của Máu Thánh này.

Các thừa tác viên của Cha tuỳ mỗi nhiệm vụ và cấp bậc, đều được Cha ban quyền phân phát ân sủng của Chúa Thánh Thần. Họ phân phát ân sủng như thế nào và cách nào? Với ánh sáng của ân sủng, mà họ nhận được từ Ánh Sáng đích thực cao cả này, tức Mình và Máu Chúa Kitô. Chỉ có ánh sáng của ân sủng thôi sao? Không, vì ánh sáng củ ân sủng không đơn độc nhưng trọn vẹn toàn bộ, cũng không phải phân chia san sẻ: hoặc có ánh sáng là có toàn bộ, hoặc không có là không có gì cả.

Ai mắc tội trọng thì mất ánh sáng của ân sủng, và ai có ân sủng thì trí tuệ nó có ánh sáng cần thiết, để nhận biết Cha là Đấng ban ân sủng và có nhân đức để giữ gìn ân sủng. Nhờ ánh sáng này, nó cũng nhận biết sự xấu xa của tội lỗi và tính tự ái cảm giác là nguyên nhân sinh ra mọi nết xấu. Bởi vậy, nó gớm ghét tính tự ái, và vì sự gớm ghét này, trái tim nó bốc cháy lửa đức ái, vì trái tim theo sau trí tuệ. Và khi vâng theo lời giảng dạy của Đấng Chân Lý dịu hiền, nó nhận được màu sắc của Ánh Sáng vinh hiển đó; khi ấy, trí nhớ của nó sẽ chất đầy những kỷ niệm về các hồng ân của Máu Thánh.

TRA CỨU THẦN SỐ HỌC Đóng Xem Đường Đời, Sự Nghiệp, Tình Duyên, Vận Mệnh, Các Năm Đỉnh Cao Cuộc Đời...
(*) Họ và tên của bạn:
(*) Ngày tháng năm sinh:
 

Khoa học khám phá bản thân qua các con số - Pythagoras (Pitago)

Con thấy chưa: người ta không thể tiếp nhận ánh sáng, mà đồng thời không được hưởng sức nóng và màu sắc của nó, bởi vì tất cả các đặc tính này kết hợp thành một với nhau. Cũng vậy, như Cha đã giải nghĩa cho con, một quan năng của linh hồn hướng về Cha là Mặt Trời chân chính, thì cả ba quan năng của nó cũng liên kết hướng về Cha. Khi con mắt của trí tuệ được ánh sáng đức tin soi sáng và nâng nó lên khỏi những cái nhìn của cảm giác, để nhìn xem Cha, nó sẽ kéo theo ý muốn, khi đó trái tim sẽ đem lòng mến yêu những gì trí tuệ nhìn thấy và chiêm ngắm; còn trí nhớ sẽ được đổ đầy những gì nó yêu mến. Một khi các quan năng của linh hồn đã được chuẩn bị như thế, linh hồn sẽ được tham dự vào mặt trời là Cha: Cha soi sáng nó bằng quyền năng của Cha, bằng sự khôn ngoan của Con Một Cha, và Cha sẽ làm cho nó bốc lửa nhân ái nồng cháy của Chúa Thánh Thần.

Một khi các tôi tớ trung thành của Cha đã được mặc lấy phẩm chất của Mặt Trời, các quan năng của họ đều được tràn đầy ánh Mặt Trời vĩnh cửu là Cha, và họ thi hành chức năng của Mặt Trời. Mặt Trời sưởi nóng, soi sáng và sức nóng của nó làm cho đất trở nên phì nhiêu. Các thừa tác viên yêu dấu của Cha cũng đã làm như vậy.

Họ được Cha tuyển chọn, được Cha xức dầu, được Cha đặt trong nhiệm thể củaHội Thánh để ban phát Mặt Trời là Cha, ban phát Mình và Máu Con Một Cha qua các bí tích ban sự sống nhờ Máu Thánh này. Họ ban phát Mặt Trời cách hiện thực và cách thiêng liêng, bằng cách toả ra trong Nhiệm thể Hội Thánh luồng ánh sáng: ánh sáng của khoa học siêu nhiên, gắn liền với màu sắc của một đời sống tốt lành và thánh thiện, phù hợp với lời giảng dạy chân lý của Cha, cùng chia sẻ sức nóng của đức ái nồng nàn. Sức nóng của đức ái ở nơi họ giúp cho các linh hồn khô héo được sinh hoa trái; sự thông thái của họ soi sáng linh hồn, và gương nhân đức đời sống của họ xua tan mọi bóng tối tội lỗi và bất trung. Những kẻ ngồi trong chốn tối tăm của tội lỗi và trong sự lạnh lẽo của sự chết vì mất an sủng, đã được họ đưa về đời sống hợp ý Cha. Vậy, họ chẳng phải là những mặt trời đó sao, vì họ có phẩm chất của mặt trời, và vì Cha là Mặt Trời đích thực đã thông ban cho họ. Nhờ tâm tình mến yêu, họ đã trở nên một với Cha, và Cha với họ là một.

Tất cả chư vị tuỳ theo chức vụ Cha đã dành cho họ, đều đã làm ánh sáng Chúa Thánh Thần toả ra. Phêrô bằng việc giảng dạy, bằng giáo lý và sau cùng bằng Máu của mình; Grêgôriô bằng trí thông minh, bằng sự hiểu biết sâu sắc Thánh Kinh, bằng gương sáng đời sống; Silvestre bằng sự chiến đấu chống lại các kẻ không tin đạo, bằng những lời lẽ biện hộ cho đức tin rất thánh, cả bằng hành động, bằng giảng dạy, bằng thần lực mà ông đã nhận được từ nơi Cha.

Nếu con nhìn vào Âutinh, vào Tôma Aquinô, Giêrônimô cùng nhiều vị khác, con sẽ thấy các vị này đã toả biết bao ánh sáng trên Hiền Thê của Con Cha là Hội Thánh. Bằng cách giải trừ những sự lầm lạc, như vị là những ngọn đuốc sáng, được đặt trên trụ, tuy vậy vẫn sống rất khiêm nhường! Chư vị đói khát vinh quang Cha và ơn cứu độ các linh hồn, chư vị ăn món ăn này trong hoan lạc tại bàn tiệc của Thánh Giá.

Các chứng nhân tử đạo đã giãi toả ánh sáng bằng máu của mình. Hương vị của máu và nhân đức hợp với ánh sáng của sự thông thái, các vị này đã làm cho Hội Thánh sinh nhiều hoa trái, mở rộng triều đại đức tin. Nhiều kẻ từ chốn tối tăm đã chạy lại với ánh sáng lan toả từ các chứng nhân anh hùng.

Các chủ chăn và các mục tử được Đức Kitô ở trần gian đặt lên cai quản Hội Thánh, họ dâng lên Cha lễ vật công chính bằng một đời sống thánh thiện và gương mẫu. Viên ngọc công chính này cẩn vào đức khiêm nhường chân thật, đức ái rất nồng nhiệt, rạng ngời nơi các chủ chăn thánh thiện do đời sống công chính, là trả lại cho Cha những gì thuộc về Cha, tức danh dự và vinh quang. Họ gớm ghét và khinh chê tính dục, từ bỏ các nết xấu để gắn bó với nhân đức bằng tất cả sự nhiệt tâm của đức ái, đối với Cha và đối với tha nhân. Đức khiêm nhường của họ giày đạp dưới chân tính kiêu ngạo. Họ bước tới bàn thờ như những thiên thần, với tâm hồn trong sạch, không một vết nhơ nơi thân xác; và với tâm hồn rất chân thành, họ cử hành Thánh Lễ đang lúc lửa kính mến bốc lên.

Vì họ chu toàn đức công chính nơi bản thân và trong đời sống, nên họ cũng làm cho sự công chính ngự trị nơi các kẻ dưới quyền. Họ muốn đàn chiên mình cũng sống cách thánh thiện, họ sửa dạy chúng mà không sợ hãi nô lệ, vì họ đã quên mình để chỉ nghĩ đến vinh dự của Cha và ơn cứu độ các linh hồn. Ôi, những vị mục tử tốt lành chừng nào! Họ thực sự đi theo vị Mục Tử nhân lành, Đấng Chân Lý của Cha, đã được Cha ban cho để dẫn dắt các con. Hỡi các chiên yêu dấu của Cha, Cha đã truyền cho Ngài hy sinh mạng sống mình vì các con (Xc Ga 10:11). Các mục tử của Cha đã theo đúng vết chân của Ngài: họ đã sửa dạy kịp thời, không để cho các chi thể bị hư thối vì không được săn sóc. Họ đã thực hành đức ái, không những sửa lỗi chúng bằng lửa châm cứu các vết thương khi cần thiết, bằng trách mắng, bằng hình phạt, nặng nhẹ tuỳ theo mức độ lỗi lầm. Không bao giờ vì sợ chết mà họ trốn tránh hành động hay nói thẳng nói thật.

Chư vị đó là những thợ làm vườn chân chính. Với lòng nhiệt thành và sự kính sợ thánh thiện, họ nhổ những gai nhọn tội trọng, để trồng thế vào đó những cây hoa thơm ngát nhân đức. Bởi vậy, những người dưới quyền họ sống trong sự kính sợ thánh thiện và lớn lên như những bông hoa xinh đẹp trong vườn hoa Hội Thánh, bởi vì họ sửa dạy chúng mà không sợ hãi nô lệ. Vì họ không vướng mắc tội lỗi, nên họ rất nhiệt tình cho sự công chính và thánh thiện, họ sửa dạy chiên mình cách khiêm nhường, không chút mặc cảm nào hết. Họ rực sáng như những viên đá quý, toả ánh sáng và bình an trên các thụ tạo của Cha. Họ giữ gìn chúng trong sự kính sợ thánh thiện và đoàn kết trong tình yêu. Con nên biết: nếu có nhiều tối tăm như thế trên thế giới, nếu có chia rẽ giữa người đời và các tu sĩ, giữa các giáo sĩ và các chủ chăn của Hội Thánh, lý do thứ nhất là vì ánh sáng của sự công chính đã tắt, và bóng tối tăm của sự gian tà bao phủ trái đất.

Dầu ở vị thế nào thuộc luật đời hay luật Chúa, không ai có thể vững bền trong ân sủng, mà không vì sống công chính (Xc Cn 16:12). Những kẻ không sửa lỗi ai, hay mình không được sửa trị, thì giống như một chi thể bắt đầu hư nát, vì ông thầy thuốc dở đã chỉ băng bó mà không rửa sạch vết thương: tất cả thân xác rồi cũng sẽ mau chóng bị nhiễm độc và hư thối. Các chủ chăn hay bề trên bất xứng cũng giống như thế: họ thấy một kẻ bề dưới hư hỏng vì thương tích đầy ung nhọt của tội trọng, họ chỉ dùng thứ dầu nóng của lời nói thoa bóp mà không dùng đến lời quở trách. Như vậy, không bao giờ họ chữa lành các chi thể khác của một thân thể, tức các chiên thuộc cùng một mục tử.

Trái lại, nếu họ là những thầy thuốc giỏi và có lương tâm của các linh hồn, như những mục tử vinh hiển xưa kia, họ chỉ dùng dầu thoa bóp sau khi đã tẩy sạch vết thương bằng lửa của lời quở trách. Nếu kẻ có lỗi tỏ ra cố chấp trong nết xấu của nó, họ phải loại nó ra khỏi cộng đoàn, để nó đừng lây nhiễm sang cách thành phần khác do sự hư thối của tội trọng. Nhưng ngày nay, các mục tử không hành xử như vậy. Hơn nữa, họ làm bộ không nhìn thấy gì hết.

Con biết tại sao như thế không? Nguyên nhân là tính tự ái ở trong họ đã sinh ra sự sợ hãi nô lệ này. Họ sợ mất địa vị, mất một số lợi lộc trần thế, hay chức tước. Vì thế họ nín thinh. Ôi! Những kẻ mù quáng! Họ không biết cách duy trì được chỗ đứng của mình. Họ không biết sức mạnh để duy trì, là sự công chính thánh thiện. Nếu họ hiểu biết, họ đã ra sức bắt người ta giữ đức công chính. Nhưng có vẻ như họ không hiểu biết gì hết, vì họ đã mất ánh sáng.

Họ tưởng sẽ có thể duy trì được bằng sự bất chính, nên họ không quở trách những khuyết điểm của các kẻ thuộc quyền. Nhưng cũng có thể vì chính đam mê tính dục khiến họ sai lầm: đó là tham vọng chức quyền, đó là sự ước ao chức tước trong Giáo Hội, cũng có thể họ đang mặc cảm cùng những nết xấu đó, có khi còn lớn hơn. Như vậy, làm sao có thể quở trách các nết xấu ấy nơi người khác? Sự mặc cảm tội lỗi của mình đã khiến họ không đủ can đảm và quả quyết cần thiết, còn làm họ đâm ra sợ hãi nô lệ, nên họ cố tình nín thinh như không biết gì cả. Trường hợp họ ý thức được bổn phận và có can đảm để quở trách, họ cố ý tìm cách bỏ qua, vì những lời nịnh bợ hay quà tặng. Như vậy, họ có cả trăm ngàn lý do để không xử nghiêm khắc. Họ đúng là những người mà Đấng Chân Lý đã nói: “Đó là những người mù dắt người mù. Mù mà lại dắt mù, cả hai sẽ lăn cù xuống hố” (Mt 15:14).

Chắc chắn đấy không phải là cách hành xử của những chủ chăn trước kia (mà ngày nay còn số ít), đó là những thừa tác viên yêu quý của Cha, họ có những đặc tính và những phẩm chất của Mặt Trời. Và thật sự họ là những mặt trời. Nơi họ không có bóng tối tăm của tội lỗi, nơi họ không có sự ngu xuẩn, bởi vì họ tuân theo giáo lý Đấng Chân Lý dịu hiền của Cha. Nơi họ không có sự nguội lạnh, vì họ được nung nấu bởi lửa đức ái của Cha. Danh vọng, địa vị, thú vui thế tục, tất cả đều không có nghĩa lý gì đối với họ. Cũng vậy, họ không lo sợ gì khi phải sửa trị nết xấu. Ai không có tham vọng quyền bính và chức tước, sẽ không sợ mất những thứ ấy, và sẽ sửa dạy cách thẳng thắn. Ai có lương tâm không bị trách móc, không phải sợ hãi chi.

Như vậy, viên ngọc quý của sự công chính đã không bị lu mờ nơi các vị được xức dầu của Cha, nơi các Kitô của Cha. Trái lại nó luôn sáng rực. Họ tự nguyện sống khó nghèo, khiên hạ. Cho nên, họ không quan tâm đến những lời chế nhạo, những xỉ vả, những vu khống, những thoá mạ, những xỉ nhục, những khổ hình của thế gian. Nếu người ta nói phạm đến họ, họ vẫn chúc lành và chấp nhận mọi sự một cách nhẫn nhục như các thiên thần (Xc 1Cr 4:9-13). Họ còn hơn các thiên thần, vì không phải do bản tính họ, nhưng do hồng ân siêu nhiên, mà họ nhận lãnh chức năng phân phát Mình và Máu Con Một Cha.

Họ thật sự là những thiên thần. Những thiên thần được Cha đặt lên để bảo vệ các con và thông cho các con những linh cảm tốt lành và thánh thiện. Các thừa tác viên của Cha ngày nay cũng phải như vậy: họ là những thiên thần. Cũng đã được lòng nhân hậu của Cha đặt lên để lo bảo vệ các con, họ phải săn sóc những linh hồn được Cha trao phó, gợi cho chúng những tư tưởng tốt lành và thánh thiện; họ không ngừng dâng lên Cha những ước nguyện đầy bác ái, những lời cầu nguyện liên lỉ, nâng đỡ chúng bằng lời giảng dạy và gương sáng đời sống.

Con thấy đó, các linh mục thánh thiện này là những thiên thần, những sứ giả của tình thương của Cha, được Cha đặt làm những người bảo hộ các con. Họ là những ngọn đèn sáng trong nhiệm thể Hội Thánh, là những nhà giáo dục có khả năng dẫn dắt các con là những người mù loà; họ dẫn dắt các con bước đi trên đường Chân Lý với những ý tưởng tốt lành, bằng lời cầu nguyện, bằng gương sáng đời sống, và bằng lời giảng dạy. Với đức khiêm nhường chân thành, họ chăm lo săn sóc các kẻ được trao phó.

Với đức tin sống động, đức cậy vững vàng, họ không sợ phải thiếu thốn của cải trần thế, cho họ và cho đàn chiên của họ. Bởi vậy, họ rất rộng tay trong việc phân phát của cải cho người nghèo. Họ nghiêm chỉnh tuân giữ nghĩa vụ chia các của cải trần thế làm ba, cho nhu cầu bản thân, cho người nghèo và cho Giáo Hội. Họ không phải lo làm tờ di chúc, vì họ không có tài sản để lại sau khi chết. Thậm chí, một vài vị còn vì lo cho người nghèo mà để lại nợ nần cho Giáo Hội. Đức ái của họ rất quảng đại, đức cậy của họ rất vững vàng và sự quan phòng của Cha, nên sự sợ hãi nô lệ đã không tác động đến họ: họ không sợ thiếu thốn gì về của cải vật chất cũng như về các ơn thiêng liêng.

Dấu hiệu để nhận biết một thụ tạo trông cậy nơi Cha và không cậy vào bản thân mình, đó là không có sự sợ hãi nô lệ. Những kẻ cậy vào bản thân thì luôn luôn sợ. Chúng sợ cả cái bóng của mình, chúng luôn luôn tự hỏi trời đất có thuận lợi cho họ hay không. Với sự sợ hãi đó ở trong đáy lòng, và với sự trông cậy giả dối vào chút hiểu biết của chúng, chúng bị dày vò bởi một sự lo âu khổ sở, để đảm bảo và giữ gìn những của cải trần gian chúng có. Còn những của cải thiêng liêng, thì người ta có cảm tưởng như chúng đã xếp sang một bên, không quan tâm gì hết.

Những kẻ kiêu ngạo và đáng thương này, không có niềm tin, chúng không nghĩ chính Cha mới là Đấng lo cung cấp mọi nhu cầu thiêng liêng cũng như vật chất cho các con, theo như sự quan phòng của Cha cân đo sự trông cậy của mỗi người để tiếp cứu từng người (Xc Mt 7:2; Mc 4:24). Những kẻ tự kiêu khốn nạn này không suy nghĩ: Cha là Đấng Tự Hữu, còn chúng chỉ là hư vô, chính lòng nhân hậu Cha đã ban sự hiện hữu cho chúng, cũng như hằng ban ân sủng cho chúng được sống.

Thật vậy, ví như Chúa không phòng giữ thành, người trấn thủ canh giữ cũng uổng công (Xc Tv 127:1). Tất cả mọi nỗ lực của chúng để canh gác sẽ vô hiệu, nếu chỉ dựa vào sức mình để bảo vệ, bởi vì chỉ mình Cha có thể bảo vệ thành. Cha muốn các con phải lấy nhân đức, mà làm cho sự sống và các ân sủng Cha ban được sinh hoa kết quả trong cuộc đời các con, bằng cách sử dụng ý chí tự do mà các con đã được ban cho, cùng với ánh sáng của lý trí. Bởi vì, Cha đã sáng tạo các con mà không cần các con, nhưng Cha sẽ không cứu độ các con, mà không cần đến các con.

Cha đã yêu thương các con trước khi các con được sinh ra. Các tôi tớ yêu dấu của Cha biết rõ điều này, nên họ yêu mến Cha hết lòng. Sự yêu mến này khiến họ hoàn toàn cậy trông vào Cha, cho nên họ không lo sợ gì hết. Sylvestrê đã không run sợ, khi đứng trước ngai hoàng đế Constantinô, để tranh luận với 12 người Do Thái, trước đám đông dân chúng. Ngài có đức tin sống động, tin tưởng mạnh mẽ nơi Cha, và tin rằng có Cha ở bên, thì không ai thắng được mình (Xc Rm 8:31). Các đầy tớ khác của Cha cũng vậy, họ không sợ gì, vì biết mình không đơn độc. Họ luôn cảm thấy Cha ở bên cạnh (Xc 1 Ga 4:16). Họ ở trong đức ái của Cha, ở trong Cha và nhận được ánh sáng của sự khôn ngoan của Con Cha. Họ nhận được quyền năng của Cha để đứng vững vàng và mạnh mẽ, trước mặt các vua chúa thế gian. Họ cũng được Cha ban cho lửa Chúa Thánh Thần, được dự phần vào lòng bao dung và tình yêu nồng nhiệt của Ngài. Và tình yêu này luôn kèm theo ánh sáng đức tin, đức cậy, sức mạnh, nhẫn nại, kiên trì cho đến chết.

Con thấy chưa, họ không cô đơn, họ luôn có Cha ở với mình, cho nên họ không sợ. Chỉ có ai cô đơn mới lo sợ, bởi vì nó trông cậy vào mình và không có lòng mến của đức ái. Hơi có đe doạ là nó hoảng hốt. Nó cô đơn, không có Cha ở bên, mà Cha là Đấng mang lại an toàn cho những linh hồn có lòng yêu mến, nên nó được Cha ở trong nó. Những tôi tớ vinh hiển và yêu dấu của Cha đã chứng tỏ không gì đe doạ tâm hồn họ; trái lại, đã nhiều lần người ta thấy họ vững mạnh trước thế quyền và ma quỷ, họ trói buộc chúng bằng uy quyền và thần lực Cha đã ban cho, để cự lại chúng. Cha đã đáp lại lòng mến yêu, niềm tin cậy họ đặt nơi Cha.

Lưỡi con sẽ không thể nào kể hết các nhân đức của họ. Mắt trí tuệ con không thể nhìn thấy phần thưởng họ và những ai bước theo chân họ, sẽ được hưởng trong cuộc sống vĩnh cửu. Họ ở trước mặt Cha như những viên đá quý, bởi vì Cha quý trọng các công việc họ làm, cũng như ánh sáng và hương thơm nhân đức họ toả ra trong nhiệm thể của Hội Thánh. Bởi vậy, Cha đã ban cho họ được vinh hiển trong cuộc sống vĩnh cửu, họ diễm phúc và vinh quang vì được phúc kiến Cha, vì họ đã nêu gương một cuộc đời đầy vinh dự và thánh thiện, đã chăm lo việc ban phát ánh sáng của Mình và Máu Con Một Cha và các bí tích khác.

Cha đặc biệt yêu thương họ, vì Cha đã xức dầu tấn phong họ làm tư tế, làm thừa tác viên kho báu của Cha. Họ đã không vì biếng nhác hay ngu xuẩn, mà đem đi chôn vùi (Xc Mt 25:14-30; Lc 19:12-22). Họ biết: đó là kho báu Máu Con Một Cha, nên luôn lo lắng cho nó có giá trị và sinh ích, bằng một đức khiêm nhường chân thành, cùng nhiều nhân đức vững chắc khác.

Cha đã ban vinh dự lớn lao ấy cho họ vì ơn cứu độ các linh hồn, nên họ đã làm việc không mệt mỏi, như những mục tử nhân lành, để các chiên về chuồng chiên là Hội Thánh. Vì tình thương và vì đói khát các linh hồn, họ đã hy sinh mạng sống mình để kéo các linh hồn ra khỏi tay ma quỷ (Xc Ga 10:7-16). Họ yếu đuối, Cha muốn nói họ trở nên yếu đuối với những kẻ yếu đuối. Nhiều khi để giúp tha nhân khỏi ngã lòng, và để cho kẻ tội lỗi dễ giãi bày tâm sự, họ nói: Tôi cũng yếu đuối như anh em (Xc 1Cr 9:22). Họ “khóc lóc với những người khóc lóc, và vui mừng với những ai được vui mừng” (Rm 12:15). Họ ban phát cho mỗi người lương thực thích hợp với mỗi người, họ cẩn trọng những người lành thánh, họ hoan lạc vì nhân đức của những người này. Họ không bị xâu xé bởi tính ganh tị, và trái tim họ mở rộng vì đức ái đối với mọi người, nhất là đối với những người họ có trách nhiệm coi sóc. Đối với những người tội lỗi, họ ra sức lôi kéo chúng ra khỏi đường tà bằng sự cảm thông với những yếu đuối bệnh hoạn của chúng. Họ sửa lỗi chúng và nhiều khi, vì bác ái, họ chia sẻ việc đền tội với chúng. Họ thương những người tội lỗi, đến nỗi bản thân họ đau đớn về việc đền tội họ ra cho chúng, hơn chính những kẻ phải nhận lấy việc đền tội ấy. Đôi lần, nhất là khi thấy hối nhân tỏ ra quá ngại ngùng, họ đã làm việc đền tội đó thay cho chúng. Như vậy, sự nặng nề của việc đền tội đã trở nên nhẹ nhàng.

Ôi, những linh mục yêu dấu của Cha! Họ đã khiêm nhường hạ mình xuống trước mặt các kẻ thuộc quyền họ. Họ là những bậc thầy trong Giáo Hội, mà đã làm như những đầy tớ! Họ lành mạnh, họ trong sạch, mà làm như người bệnh hoạn! Họ khoẻ mạnh mà làm như yếu đuối! Họ sống đơn sơ với những người đơn sơ, bé nhỏ với những kẻ bé nhỏ; như vậy, với đức khiêm tốn và nhân ái, họ thích nghi với mọi người, và mang đến cho mỗi người phần lương thực cần phải có.

Ai đã khiến họ hành động như thế? Đó là vì sự khao khát và niềm ước ao đối với thánh danh Cha và ơn cứu độ các linh hồn. Họ chạy tới ăn uống thức ăn này tại bàn tiệc Thánh giá. Họ không trốn tránh một sự nặng nhọc nào hết, họ không từ chối một sự mệt mỏi nào cả. Đầy nhiệt tình đối với các linh hồn, đối với Hội Thánh, đối với việc mở rộng đức tin, họ lao mình vào giữa đám chông gai của gian truân, bất chấp mọi nguy hiểm, với một sự nhẫn nại bền vững, và luôn dâng lên Cha hương thơm những ước nguyện thánh thiện và lời cầu nguyện khiêm tốn và sốt sắng. Những nước mắt và mồ hôi của họ là dầu nóng linh nghiệm, chữa lành các thương tích do tội trọng gây nên cho tha nhân, những ai khiêm nhường lãnh nhận linh dược này, đều tìm lại được sự lành mạnh tâm hồn.

Tóm lược những điều nói trên. Về sự trọng kính các linh mục, dầu là tốt hay xấu.

  1. Con rất yêu dấu của Cha, Cha đã cho con thấy một tia sáng vinh quang nơi các thừa tác viên của Cha. Cha nói một tia sáng, so với sự thật của vinh quang đó. Cha đã trình bày cho con thấy tước vị mà Cha đã mặc cho họ, khi chọn họ làm các thừa tác viên của Vì năng quyền và vì chức phẩm Cha đã ban cho họ, Cha không muốn người đời đưa tay sửa phạt họ vì bất cứ lỗi lầm nào. Khi họ đụng tới các linh mục của Cha, họ xúc phạm đến Cha một cách đáng trừng phạt.

Trái lại, Cha muốn họ dành cho các vị tất cả sự trọng kính phải có, không phải vì bản thân họ nhưng vì Cha, như Cha đã nói, và vì năng quyền Cha đã ban cho họ. Sự trọng kính này không bao giờ được giảm đi, cả khi nhân đức của họ có sút giảm, bởi vì các vị luôn luôn là những thừa tác viên của Mặt Trời, những người ban phát Mình và Máu Con Cha, và ban phát các bí tích khác.

Tước vị này thuộc về cả hàng linh mục, tốt cũng như xấu. Tất cả đều đã được ban cho chức vụ như nhau. Nhưng, như Cha đã nói, các vị có đời sống hoàn thiện thì có những đặc tính của Mặt Trời: họ soi sáng và sưởi ấm các linh hồn bằng tình thương của đức ái. Nhờ sức nóng này, họ sản xuất hoa trái, và làm nảy sinh các nhân đức nơi tâm hồn những kẻ được trao phó coi sóc. Họ là những thiên thần được Cha đặt lên để bảo vệ các con, ngăn ngừa các con khỏi sự dữ và gợi ý cho các con làm những việc lành, nhờ lời cầu nguyện thánh thiện và lời giảng dạy cùng gương sáng đời sống đạo đức. Họ còn được Cha đặt lên để phục vụ các con, ban phát các bí tích như các thiên thần vẫn bảo hộ các con, và gợi lên trong các con những tư tưởng tốt lành và thánh thiện (Xc Dt 1:14).

Vậy các con thấy đó, ngoài tước vị Cha ban cho họ, họ cũng đáng các con kính trọng và yêu mến, vì họ có những nhân đức mà mọi người buộc phải có. Các con phải kính trọng họ hơn nữa, vì đó là những người con được Cha kén chọn, họ sống nhân đức, nên họ cũng là mặt trời được đặt giữa nhiệm thể của Hội Thánh. Nếu bất cứ ai có nhân đức đều đáng được kính trọng, thì huống chi những vị này, do chức vụ Cha đã trao phó cho họ! Vậy các con phải yêu mến các vị vì hai danh nghĩa: vì các nhân đức của họ và vì chức vụ của bí tích. Còn những vị sống không xứng đáng, các con phải chê ghét tội lỗi của họ, nhưng Cha không muốn các con tự đặt mình làm quan toà để lên án họ. Họ là những người Cha đã xức dầu, các con phải trọng kính và yêu mến các người nắm quyền thay mặt Cha (Xc Mt 23:2-3).

Nếu có người bẩn thỉu ăn mặc rách rưới mang đến cho các con một báu vật có sức ban sự sống, chắc chắn vì lòng yêu quý báu vật ấy và cũng vì mến ông chủ gửi đến các con, các con sẽ dành cho người thừa phái đómột sự đón tiếp tử tế, mặc dầu y ăn mặc rách rưới bẩn thỉu. Các con không ưa cái bề ngoài của y, nhưng vì quý mến ông chủ, các con sẽ lo tắm rửa và mặc bộ đồ mới cho y. Đức ái dạy các con phải làm như vậy, và Cha muốn các con cũng xử sự như thế đối với các thừa tác viên có đời sống bất xứng của Cha. Mặc dầu áo quần họ rách rưới lem luốc bởi các nết xấu của họ, vì họ đã rời khỏi đức ái của Cha, nhưng họ mang đến cho các con một báu vật, qua các bí tích của Hội Thánh, nhờ đó các con múc được ân sủng, nếu các con tiếp nhận cách xứng đáng. Vậy các con phải trọng kính họ, mặc dầu họ có nhiều tật xấu, các con hãy kính trọng họ vì lòng mến Cha, là Thiên Chúa Hằng Hữu, Đấng sai họ đến với các con. Và cũng vì lòng kính mến ân sủng mà các con nhận được nơi kho báu là Mình và Máu Con Cha, hiệp nhất với bản tính thần linh của Cha. Bổn phận của các con là than khóc và chê ghét những lỗi lầm ở nơi họ, và ra sức dùng đức ái và lời cầu nguyện thánh thiện để sắm cho họ một bộ đồ mới, và lấy nước mắt của các con để rửa sạch sự ô uế nơi họ. Đó là những gì các con phải làm: là dâng lên Cha những lời cầu nguyện cùng với nước mắt và niềm ước ao tha thiết, để Cha lấy lòng nhân hậu mà mặc lại cho họ bộ áo mới của đức ái.

Các con biết rõ Cha muốn tha thứ cho họ, miễn là lòng họ sẵn sàng, điều đó các con phải cầu xin Cha. Thật là trái ý Cha, khi thấy họ ban phát Mặt Trời cho các con, mà lại sống trong tối tăm, không có nhân đức mà còn dơ bẩn bởi một cuộc sống lem luốc tội lỗi. Như Cha đã nói với con, Cha đã đặt họ làm những thiên thần bảo hộ các con và là mặt trời của các con. Nếu họ không sống xứng đáng, bổn phận của các con là cầu nguyện cho họ, nhưng các con đừng phán xét họ; sự phán xét này phải dành cho Cha. Và Cha sẽ thương xót họ, nếu các con cầu nguyện cho họ, và họ phải thuận theo ý đó. Còn nếu như họ không sửa mình, tước vị của họ sẽ là bản án cho họ. Cha là Thẩm Phán tối cao, Cha sẽ cho họ nghe lời khiển trách nặng nề vào giờ phút cuối cùng trước khi chết, và nếu họ cũng không hối cải, không lợi dụng lòng thương xót lớn lao của Cha, họ sẽ bị đẩy xuống lửa đời đời.

Về cuộc đời tội lỗi của những linh mục xấu.

  1. Con rất yêu dấu của Cha, bây giờ con nghe đây, để con và các tôi tớ của Cha lo dâng lên Cha những lời cầu nguyện khiêm nhường và liên tục cho họ. Cha muốn tỏ cho con thấy và nói cho con nghe về đời sống tội lỗi của quá nhiều linh mục. Dầu con nhìn về phía nào, con cũng thấy rất nhiều linh mục triều và dòng, rất nhiều giáo sĩ và tu sĩ trong Giáo Hội, kẻ bé người lớn, kẻ trẻ người già, đủ mọi bậc, đâu đâu con cũng thấy họ xúc phạm đến Tất cả đều toả ra mùi hôi thối của tội lỗi nặng nề. Sự thối tha này không bén mảng tới Cha và làm hại Cha, nhưng chỉ tai hại cho bản thân họ.

Cho tới đây, Cha đã nói với con về đời sống rất tốt lành, và về các nhân đức nơi các linh mục thánh thiện của Cha, những người mang lại cho tâm hồn con một sự an ủi, và để con càng hiểu sự khốn nạn của các kẻ bất hạnh kia, là những người đáng quở trách nặng lời và đáng những hình phạt nặng nề nhất. Các thừa tác viên yêu dấu của Cha càng đáng phần thưởng lớn lao và rực rỡ như những viên đá quý trước mặt Cha, vì đã dùng các nhân đức để làm cho kho báu Cha trao phó sinh hoa kết quả, thì các kẻ khốn nạn ấy càng đáng những hình khổ ghê sợ nhất.

Con yêu dấu của Cha, con có biết đâu là cội rễ sự lầm lạc của họ không? Trong niềm đau đớn và cay đắng của tâm hồn con, con hãy biết đó là tính tự ái của họ, họ dung dưỡng thân xác; đó là cây kiêu ngạo, cây này đâm ra cái chồi mù quáng, thiếu suy xét. Vì đã mất ý hướng tinh thần, nên họ không còn đặt cho mình mục tiêu nào khác ngoài danh vọng và chức quyền. Họ chỉ lo tìm kiếm chức tước lớn; họ ham mê sự sang trọng và sung sướng cho cái thân. Đối với Cha, thì họ khinh khi và xúc phạm.

Họ giữ lấy cho mình những thứ không thuộc về họ, và dành cho Cha những gì không thuộc về Cha. Của Cha là thánh danh được tôn vinh, đó là những gì chúng phải trả cho Cha. Phần của họ là phải chê ghét tính dục, phải thật sự nhận biết mình, phải cảm nhận sự bất xứng của họ đối với nhiệm tích cao cả mà Cha đã uỷ thác cho họ. Trái lại, họ đầy lòng kiêu ngạo, không bao giờ no thoả với chất bùn đất nơi vàng bạc và những lạc thú thế gian. Họ tham lam, độc ác và hà tiện đối với người nghèo; và tính kiêu ngạo khốn nạn này, tính hà tiện bủn xỉn này là do lòng tích kỷ và tự ái, đã làm họ trễ nải việc coi sóc các linh hồn. Họ chỉ nghĩ tưởng và lo toan các sự thế gian, còn các chiên mà Cha trao cho họ canh giữ, đã trở thành những chiên không người chăn dắt (Xc Mt 9:36; Mc 6:34). Họ không nuôi dưỡng các chiên đó, cả về phần thiêng liêng lẫn vật chất.

Phần thiêng liêng, đúng là họ vẫn phân phát các bí tích của Giáo Hội, mà lỗi lầm của họ không làm huỷ hoại, hay suy giảm thần lực của các bí tích, khi họ ban phát. Nhưng họ không nâng đỡ các linh hồn bằng những lời cầu nguyện sốt sắng, bằng sự nhiệt tình ước ao cứu độ các linh hồn, và bằng đời sống ngay lành và thánh thiện. Về vật chất, họ không cứu giúp đoàn chiên của mình bằng của cải trần thế, họ không phân phát của cải Giáo Hội cho người nghèo. Họ không chia của cải làm ba như Cha đã nói với con: phần thứ nhất cho nhu cầu bản thân, phần thứ hai cho người nghèo, phần thứ ba cho nhu cầu và lợi ích của Giáo Hội.

Họ đã làm ngược lại, không những không phân phát cho người nghèo những gì phải phân phát, họ còn tước đoạt tiền bạc của tha nhân bằng tội buôn thần bán thánh. Thật vậy, vì đam mê vàng bạc, họ đã bán ân sủng của Chúa Thánh Thần (Xc Cv 8:20). Nhiều khi họ đi tới mức xấu xa, đến nỗi những gì đã ban cho họ cách nhưng không, để họ đem lại cách nhưng không cho các con, thì họ lại từ chối những người có nhu cầu, cho tới khi người ta đặt vào tay họ quà tặng. Tình thương họ dành cho các kẻ dưới quyền, được đắn đo bằng những lợi lộc người ta mang lại cho họ; không bao giờ có hơn.

Tất cả những hoa lợi của Giáo Hội được họ dùng để mua sắm những đồ trang sức, những đồ nhung lụa gấm vóc như các lãnh chúa và như những người trong cung điện, chứ không như các giáo sĩ hay tu sĩ. Họ khoái những con ngựa đẹp, có nhiều bình bằng vàng bằng bạc để trang trí nhà cửa. Họ sắm những đồ này, không phù hợp với bậc sống của họ, và sự xa hoa phù phiếm này của họ còn lộ ra lời ăn tiếng nói nhẹ dạ và hỗn xược. Họ chỉ nghĩ đến tiệc tùng, và cái bụng của họ là chúa họ thờ (Xc Pl 3:19). Ăn uống vô độ, sớm muộn chúng cũng rơi vào truỵ lạc và sa đọa.

Khốn thay, khốn thay cho cuộc sống bất trung của những linh mục xấu! Họ xài phí với bọn đĩ điếm những gì mà Ngôi Lời dịu hiền của Cha đã chuộc bằng biết bao đau khổ trên Thập giá. Đó là cách họ ăn thịt và giết chết những linh hồn đã được chuộc bằng Máu Chúa Kitô. Họ lấy gia sản của người nghèo để nuôi những đứa con ngoại tình của họ!

Ôi, những đền thờ của ma quỷ! Cha đã chọn các ngươi để làm những thiên thần ở dưới đất này, vậy mà các ngươi thành những tên quỷ! Các ngươi làm những công việc của ma quỷ! Ma quỷ gieo rắc sự tối tăm của chúng khắp nơi và làm chúng thành những tên đao phủ tàn bạo. Chúng ra sức dùng những cuộc tấn công, những chước cám dỗ, để làm cho các linh hồn mất ân sủng, bằng cách đưa đẩy người ta vào tội trọng. Thật ra, linh hồn chỉ sa vào tội lỗi khi ưng theo, nhưng ma quỷ làm hết sức mình để lôi kéo người ta vào đó.

Những kẻ bất trung kia, những linh mục bất xứng ấy, đã được xức dầu làm thừa tác viên của Cha, cũng đã làm như vậy! Họ là những hiện thân của ma quỷ: bởi tội lỗi của mình, họ làm theo ý muốn của ma quỷ và như vậy họ làm công việc của ma quỷ. Họ phân phát Cha là Mặt Trời chân chính, giữa những tối tăm của tội lỗi, như thế là họ toả ra những tối tăm của đời sống hỗn loạn và tội lỗi của họ trên các linh hồn được trao phó, họ còn làm cho những ai chứng kiến đời sống bê bối của họ, phải xấu hổ và đau lòng. Nhiều khi họ gieo rắc rối trí và đau khổ cho những tâm hồn đã vì họ mà xoay lưng lại với ân sủng và rời bỏ con đường Chân Lý. Khi lôi kéo người ta vào chỗ tội lỗi, họ dẫn dắt người ta qua con đường của dối trá, mặc dầu những người này vẫn không chữa mình được, bởi vì không một sức mạnh nào có thể ép người ta đi vào tội trọng, dầu đó là sức mạnh của những tên quỷ hữu hình và vô hình. Không ai buộc phải làm theo lối sống của họ, hay phải theo gương xấu của họ. “Các con hãy làm những gì họ nói với các con, nhưng đừng làm theo các hành vi của họ” (Mt 23:3), đó là lời Đấng Chân Lý của Cha đã khuyến cáo trong phúc âm. Giáo lý chúng con phải tuân theo là giáo lý đã được ban bố trong nhiệm thể của Hội Thánh, được lưu trữ trong Thánh Kinh và được công bố bởi những nhà giảng thuyết, được trao trách nhiệm loan báo Lời của Cha.

Các con đừng bắt chước họ trong cuộc sống xấu xa của họ, nếu chúng con không muốn theo họ vào cuộc sống bất hạnh. Nhưng các con cũng phải tự chế, đừng giơ tay đụng đến họ, vì làm thế các con sẽ xúc phạm đến Cha. Hãy để mặc họ sống cuộc đời tội lỗi của họ và chỉ nhận lấy giáo lý họ giảng dạy mà thôi. Các con hãy dành việc sửa trị cho Cha, vì Cha là Đấng Nhân Hậu và Hằng Hữu, Cha thưởng công mọi việc lành và sửa phạt mọi tội lỗi. Tước vị của họ không che chở họ khỏi sự đoán phạt của Cha. Trái lại, họ sẽ bị trừng trị nặng nề hơn các người khác, bởi vì họ đã nhận được nhiều hơn từ lòng nhân hậu của Cha, nếu họ không hối cải. Khi phạm đến Cha một cách khốn nạn như thế, họ đã chuốc lấy cho mình một sự trừng phạt rất nặng nề rồi. Con thấy đó, họ đã thành ma quỷ, trong khi là những người được Cha kén chọn làm thiên thần dưới thế này, để làm nhiệm vụ của các thiên thần.

Những thừa tác viên xấu xa này để cho sự bất chính tràn lan, vì chúng không sửa dạy những kẻ dưới quyền.

  1. Cha đã nói với con rằng: viên ngọc quý của sự công chính rực rỡ nơi những thừa tác viên yêu dấu của Bây giờ, Cha sẽ cho con biết những kẻ bất trung kia mang trên ngực cái huy hiệu “Bất chính” (Xc Kn 5:18; Ep 6:14). Sự bất chính này phát sinh từ tính tự ái và gắn liền với nó. Bởi vì tính tự ái làm họ trở thành bất chính, đối với linh hồn họ và đối với Cha, vì họ bị mù quáng bởi sự phán đoán sai lầm. Họ không tôn vinh danh Cha, như đáng lẽ họ phải làm, và họ không lo cho linh hồn họ tốt lành và thánh thiện, họ không khao khát ơn cứu độ các linh hồn, không ước ao các nhân đức. Như vậy, họ trở thành bất chính đối với các kẻ được trao phó, và đối với mọi người, cũng như không sửa chữa các nết xấu của mình.

Họ mù quáng, họ không ý thức về những tai hại họ gây nên cho các tạo vật của Cha, khi họ để chúng mê ngủ và nằm yên trong sự tối tăm của chúng. Họ không biết: khi muốn làm vui lòng các tạo vật như thế, họ để cho chúng hư đi, và họ xúc phạm đến Cha là Đấng tạo thành nên chúng. Đôi khi họ lên tiếng quở trách, để làm ra vẻ giữ được một chút công chính, thì họ không dám nhắm vào những người làm lớn, dầu nết xấu này còn ghê tởm hơn của những người bé mọn, bởi vì họ sợ liên luỵ đến địa vị và tài sản của họ. Họ chỉ trách mắng những người bé mọn, là những kẻ không làm gì được họ, không đe doạ địa vị của họ. Tất cả những việc ấy chẳng phải là làm điều bất chính, do tính tự ái khốn nạn, đó sao?

Tính tự ái đã đầu độc thế gian và đầu độc nhiệm thể của Hội Thánh. Nó đã làm cho khu vườn của Hội Thánh đầy những cỏ dại và những bông hoa thối nát. Khi xưa khu vườn này được vun tưới bởi những thợ giỏi, những thừa tác viên thánh thiện, khi ấy vườn đầy những bông hoa thơm ngát. Các Kitô hữu không có cuộc sống tội lỗi dưới sự chăn dắt của những mục tử tốt lành, những linh mục có đời sống lương thiện, đạo đức và lành thánh.

Bây giờ, thì không còn như thế nữa: giáo dân tội lỗi, vì các mục tử xấu xa. Hội Thánh là Hiền Thê của Chúa Kitô bị vây quanh, bởi những gai góc đủ loại và các thứ tội phạm. Nói cho đúng, Hội Thánh không bị hại bởi sự thối nát của tội lỗi, thần lực của các bí tích không vì thế mà sút giảm, nhưng các kẻ được nuôi dưỡng trong lòng Giáo Hội đã nhận lấy sự thối nát trong linh hồn họ, và họ bêu xấu địa vị cao trọng mà Cha đã đặt họ vào. Thực tế, tước vị này không suy vi, nhưng họ làm cho người ta khinh chê nhạo báng tước vị đó ở nơi họ. Tội lỗi họ đã làm cho Máu Thánh trở nên tầm thường, bởi vì người đời không còn kính trọng họ vì Máu Thánh Đức Kitô nữa. Tuy nhiên, người ta vẫn buộc phải kính trọng họ, và nếu thiếu lòng kính trọng vì họ tội lỗi, người ta vẫn mắc tội. Còn những thừa tác viên bất trung kia, họ đã được Cha chọn làm những tấm gương nhân đức, nhưng họ đã trở thành những tấm gương của sự bất chính!

Về nhiều nết xấu khác của những linh mục xấu. Đặc biệt về sự la cà các quán rượu, cờ bạc và có vợ lén lút.

  1. Con rất yêu dấu của Cha, con nên biết rằng: nguồn mạch của tất cả sự băng hoại này là dục vọng của họ. Tính tự ái của họ đã biến tính dục của họ trở thành một nữ hoàng: họ bắt linh hồn phải vâng phục như một tên nô lệ, mà Cha đã giải cứu nhờ Máu Con Cha, khi Cha giải phóng chung tất cả nhân loại khỏi sự thống trị của ma quỷ, khỏi cảnh làm nô lệ tồi tệ nhất. Mọi thụ tạo có lý trí đều được ân sủng này, cách riêng những người được Cha tuyển chọn, Cha còn giải thoát họ khỏi sự làm tôi mọi thế gian, để họ lo phụng sự Cha là Đấng Hằng Hữu, và để họ ban phát các bí tích trong Hội Thánh. Cha lo nghĩ nhiều đến quyền tự do của họ, nên Cha đã không muốn, và Cha vẫn không muốn vua chúa trần gian tự đặt mình làm thẩm phán của họ.

Con rất yêu dấu của Cha, con có biết họ tạ ơn Cha thế nào về hồng ân trọng đại này không? Họ tạ ơn Cha bằng cách không ngừng xúc phạm đến Cha, họ hành hạ Cha bằng đủ thứ tội lỗi, miệng lưỡi kể ra không xiết và con không có sức để nghe cho hết được. Tuy nhiên, Cha sẽ nói với con một ít điều ngoài những gì Cha đã kể cho con nghe, để con thấy mà khóc lóc và cảm thương họ.

Lẽ ra họ phải ở lại nơi bàn tiệc của Thánh giá, và với niềm ước ao thánh thiện họ phải nuôi dưỡng mình bằng ơn cứu độ các linh hồn, để danh Cha được vinh hiển. Tất cả mọi thụ tạo có lý trí đều phải làm như thế, nhưng đặc biệt là họ, những kẻ được Cha chọn để phân phát Mình và Máu Chúa Kitô chịu đóng đinh, là Con Cha; và phải dùng gương sáng đời sống và việc làm, để lo nuôi dưỡng các linh hồn, theo gương Đấng Chân Lý của Cha. Nhưng bàn tiệc của họ lại ở trong các quán rượu: người ta thấy họ ở đó, chửi thề và nói phạm thượng, phơi ra cho người đời thấy những tính xấu của họ. Họ là những kẻ điên rồ, những người mất trí. Các nết xấu và tội lỗi của họ làm họ trở thành những thú vật. Hành vi, cử chỉ, lời nói của họ, mọi thứ là dâm ô, và họ thích như vậy.

Giờ kinh phụng vụ, họ không còn biết đến nữa, đôi khi họ có đọc, thì chỉ đọc bằng miệng, nhưng lòng trí họ ở xa Cha (Xc Is 29:13; Mt 15:8). Họ hành xử như những tên phóng đãng. Sau khi đã chơi bời và phó linh hồn vào tay ma quỷ, là đến lúc họ phung phí tài sản của Giáo Hội, tiêu xài những gì họ nhận được nhờ Máu Con Cha. Bởi vậy, những người nghèo không nhận được phần của mình, và Giáo Hội thì bị bóc lột hết sạch, không còn có những đồ cần thiết cho việc phụng tự. Họ đã trở thành những đền thờ của ma quỷ, cho nên không lạ gì việc họ bỏ mặc đền thờ của Cha. Những đồ quý giá lẽ ra phải để trang hoàng đền thờ của Cha, để tôn sùng Máu Con Cha, thì họ lại lấy đem về cho những ngôi nhà họ ở.

Tồi tệ hơn nữa, họ làm như người chồng lo trang điểm cho vợ mình, những tên quỷ nhập này đã lấy tiền của Giáo Hội để tô son đánh phấn cho những phụ nữ tư hôn với họ trong cuộc sống bất chính và dâm ô. Họ không chút hổ thẹn khi để những đàn bà tội lỗi ấy tới dự các Giờ Kinh phụng vụ với giáo dân, trong khi họ dâng Mình và Máu Thánh Con Cha trên bàn thờ. Và họ cũng không xấu hổ, khi để cho “vợ bé” của họ dắt con cái lên dâng của lễ với dân chúng!

Ôi, các ngươi đúng là quỷ dữ! Còn ma quỷ nào ghê tởm hơn ma quỷ này! Ít ra các ngươi cũng phải có liêm sỉ, đừng phơi bày tội lỗi của các ngươi trước mặt những người mà các ngươi coi sóc! Khi phạm các tội đó cách kín đáo các ngươi cũng phạm đến ta và để cho mình phải hư đi, nhưng ít ra các ngươi không lôi kéo người khác vào chỗ hư hỏng, do việc phơi bày cuộc đời tội lỗi của mình. Gương xấu của các ngươi là lý do để chúng không bỏ đường tội lỗi, mà còn phạm những tội như các ngươi, và những tội nặng nề hơn nữa. Phải chăng đó là sự trong sạch Cha đòi hỏi nơi các linh mục của Cha, khi họ tiến lên bàn thờ? Ban sáng, với linh hồn và thân xác ô uế, họ chỗi dậy khỏi cái giường tội lỗi của họ, mang tội trọng trong mình, để đi cử hành Thánh Lễ! Đó có phải là sự thanh khiết không?

Ôi, nhà tạm của ma quỷ! Còn đâu những đêm canh thức cầu nguyện? Còn đâu lời cầu nguyện chuyên chăm và sốt sắng? Đáng lý ra, trong những giờ ban đêm, các ngươi phải dọn mình cho thừa tác vụ mà các ngươi sẽ cử hành lúc hừng sáng; các ngươi phải lo nhận biết mình, phải xét mình, và nhờ sự biết mình như thế, các ngươi sẽ thấy mình bất xứng với tước vị cao trọng dường ấy; và các ngươi sẽ nhận biết Cha là Đấng vì lòng nhân hậu đã nâng các ngươi lên, không phải vì công lao gì của các ngươi, để các ngươi làm thừa tác viên của Cha, lo phục vụ các tạo vật của Cha.

Các thừa tác viên bất trung mắc một tội rất nặng. Linh hồn được một thị kiến về vấn đề này.

  1. Con rất yêu dấu của Cha, Cha muốn con biết Cha đòi hỏi nơi các con, và nhất là nơi các linh mục của Cha, tất cả sự trong sạch mà con người có thể có, để lãnh nhận bí tích cực thánh là Mình và Máu Con Theo khả năng của các con, các con phải hết sức cố gắng để đạt được sự trong sạch. Các con hãy biết rằng: nếu bản tính thiên thần có thể trở nên trong sạch hơn, thì các thiên thần cũng phải tự thanh tẩy để xứng đáng với mầu nhiệm này. Nhưng điều này không thể xảy ra, các thiên thần không cần được thanh tẩy, vì nọc độc tội lỗi không hề có ở nơi các vị này. Cha nói với con như thế, để con hiểu Cha đòi hỏi các con, nhất là các linh mục của Cha, phải trong sạch dường nào vì bí tích cao cả này.

Những kẻ bất trung kia đã làm trái ngược hẳn! Không những họ tới gần mầu nhiệm này với tâm hồn và những bàn tay ô uế, mà bản tính yếu đuối của các con thường mắc phải; tuy nhiên, nếu muốn, ý chí tự do của các con vẫn có thể cưỡng lại được, nhưng thay vì cưỡng lại sự lôi cuốn này, họ đã làm một điều tệ hại hơn, là phạm thứ tội đáng nguyền rủa.

Họ giống như những người mù, những người điên! Ánh sáng của trí tuệ họ đã lu mờ, không còn nhìn thấy sự thối nát và cảnh khốn nạn mà họ đã sa vào. Đó là tội ghê tởm, rất mất lòng Cha là Chân Lý tối cao và vĩnh cửu, đến độ Cha đã chôn vùi năm thành phố, vì đức công minh của Cha đã không thể chịu đựng được chúng nữa. Không phải chỉ có Cha gớm ghét và kinh tởm, ngay cả ma quỷ, mà những kẻ bất trung kia nhận làm thầy, cũng chê ghét.

Không phải ma quỷ chê ghét tội lỗi đâu. Chúng không thể ưa thích điều thiện nào hết, nhưng vì bản tính thiên thần của chúng kinh khiếp khi thấy con người phạm thứ tội ghê tởm này. Sự thật, ma quỷ bắn những mũi tên có nọc độc dục tình vào con người, nhưng chúng lại không thể chịu nổi khi nhìn thấy những hành vi dâm ô đó, nên chúng phải bỏ chạy.

Chắc con còn nhớ trước khi xảy ra trận ôn dịch, Cha đã phải kinh tởm biết bao khi thấy thứ tội này tràn ngập thế giới. Khi đó, Cha đã nâng con lên cao với niềm ước ao thánh thiện, và cho con nhìn thấy các nước thiên hạ, thì con đã nhìn thấy gì? Thứ tội kinh tởm này, đến độ ma quỷ phải chạy trốn, như Cha đã nói với con. Khi ấy, con rất đau đớn, sự thối nát đã không thể chịu nổi, làm con đau khổ muốn chết. Con đã không tìm được một nơi chốn nào để rút lui vào đó với các tôi tớ khác của Cha, hòng thoát khỏi chứng phong cùi ấy. Lớn bé, già trẻ, tu sĩ và giáo sĩ, chủ nhà và đầy tớ, tất cả mọi người cả hồn lẫn xác đều bị ô nhiễm vì nết xấu vô phúc này.

Tuy nhiên, trong cái cảnh thế giới tội lỗi, Cha cũng đã cho con thấy một số lớn những người mà sự lây nhiễm đã không đụng tới. Bởi vì ở giữa những kẻ xấu nết, đã có những linh hồn tốt lành của Cha: nhân đức và những việc lành phúc đức của họ đã ngăn cản đức công minh của Cha, để chưa có mưa đá xuống các kẻ bất trung này, trái đất chưa giẽ ra nuốt sống chúng, các thú vật chưa gầm lên cắn xé chúng, và ma quỷ chưa lôi cả hồn lẫn xác chúng xuống địa ngục.

Cha còn tìm cách tỏ lòng thương xót chúng, đưa chúng tới chỗ đổi mới cuộc sống. Cha sử dụng những tôi tớ của Cha, những người lành thánh, không bị lây nhiễm chứng phong cùi kia; họ còn cầu nguyện cho chúng. Nếu đôi khi Cha cho những tôi tớ của Cha nhận biết cái tội ô uế xấu xa này, là để họ thêm thao thức lo cho ơn cứu độ các tội nhân, và để họ cầu khẩn Cha với một lòng cảm thương lớn hơn, và đau đớn hơn vì tội lỗi thiên hạ xúc phạm đến Cha.

Chắc con vẫn nhớ đó là điều Cha đã làm cho con; Cha đã cho con cảm thấy một chút sự thối tha đó, con đã đau khổ hết chịu nổi, và con đã kêu lên: Lạy Cha Hằng Hữu, xin thương xót con và các tạo vật của Cha, xin lấy linh hồn con ra khỏi thân xác này, vì con không thể chịu đựng thêm được nữa. Hoặc là xin Cha ban cho con một vài an ủi, hãy tỏ cho con thấy những nơi mà con và các tôi tớ Cha có thể đến trú ẩn, hòng tránh sự lây nhiễm của chứng phong cùi này, và giữ được sự trong sạch cho hồn xác chúng con.

Lúc ấy, Cha đã nhìn xuống con cách âu yếm và trả lời con rằng: Con của Cha, nơi trú ẩn của con là làm rạng rỡ và vinh hiển danh Cha, là dâng lên Cha hương thơm của lời cầu nguyện liên tục cho các kẻ vô phúc kia, đang chìm đắm trong sự khốn cùng họ đáng phải chịu. Nơi trú ẩn của các con phải là Chúa Kitô chịu đóng đinh trên thập giá, Con Một Cha. Chúng con phải đến trú ẩn nơi cạnh sườn Ngài. Các con hãy ở lại nơi đó, các con sẽ được nhờ lòng mến yêu, và qua bản tính nhân loại của Ngài, mà nếm được bản tính Thần linh của Cha. Nơi trái tim đã mở ra này, các con sẽ gặp thấy đức ái đối với Cha và đối với tha nhân. Bởi lẽ, vì vinh dự của Cha là Đấng Hằng Hữu, và vì vâng lệnh Cha, Ngài đã nhận lấy cái chết nhục nhã trên Thánh giá, để cứu độ các con. Nhờ sự chiêm ngưỡng tình thương này và được hưởng nếm tình thương đó, các con sẽ tuân theo giáo lý của Ngài, các con sẽ được nuôi dưỡng tại bàn tiệc của Thánh giá, bằng cách chịu đựng tha nhân với đức ái và nhẫn nhục kiên trì, cũng như chịu đựng những gian truân, những nhọc mệt và đau khổ bất cứ bởi đâu mà đến với các con. Như vậy, các con sẽ được hưởng công phúc và sẽ tránh được chứng phong cùi này.

Đó là cách thức Cha đã chỉ cho con, và nay Cha vẫn gợi ý cho con và các tôi tớ của Cha. Tuy nhiên, tâm hồn con bị ám ảnh bởi sự thối tha kia, và tâm trí con chưa hết nhìn thấy những tối tăm đó. Chính lúc ấy, sự quan phòng của Cha đã đến cứu con. Chính lúc con rước Mình và Máu Con Cha, là Thiên Chúa thật và là người thật trong nhiệm tích của bàn thờ, để như một dấu chứng cho sự thật về lời Cha đã nói với con: bỗng mùi hôi thối bị đánh tan đi bởi hương thơm của bí tích này, và lập tức ánh sáng của bí tích xua tan mọi tối tăm. Do một hồng ân đặc biệt của lòng nhân hậu Cha, con đã giữ mãi nhiều ngày trong miệng con hương thơm và hương vị của Máu Thánh.

Con rất yêu dấu của Cha, con thấy Cha gớm ghét tội phạm đến bí tích rất thánh này, nơi bất cứ tạo vật nào của Cha. Nhưng Cha rất khổ tâm khi thấy tội này ở nơi những người đã được kêu gọi sống trong bậc khiết tịnh. Một số người ở bậc này đã được Cha đưa ra khỏi thế gian để sống cuộc đời tu sĩ, một số khác sống trong nhiệm thể của Hội Thánh, đó là các thừa tác viên của Cha. Các con không thể hiểu được tội của những người này làm mất lòng Cha dường nào. Tội đó xúc phạm đến Cha nhiều hơn là tội những người sống giữa thế gian, hơn cả những người vì một lẽ nào đó đã khấn giữ đức trinh khiết.

Bởi vì họ là những linh mục của Cha! Cha đã đặt họ như những ngọn đèn trên trụ cao, để họ dùng ánh sáng của nhân đức và gương sáng đời sống thánh thiện, mà ban phát Cha là Mặt Trời vĩnh cửu cho mọi người, nhưng họ đã làm tràn tối tăm lên các linh hồn. Bóng tối này đã làm cho trí tuệ họ lu mờ, đến nỗi họ không còn hiểu Thánh Kinh nữa, mà Thánh Kinh là ánh sáng chiếu soi, Thánh Kinh là Cha, là Ánh Sáng đích thực Cha thông ban cho các kẻ được kén chọn. Còn họ thì không hiểu Thánh Kinh, bởi tự mãn, tự kiêu và bị quỷ ám, nên họ chỉ thấy và hiểu cái vỏ mà không nếm được sự ngọt ngào của Lời Chúa. Vị giác của linh hồn họ không lành mạnh, nó đã ra tê liệt bởi tính tự ái. Bao tử, tức nội tâm của linh hồn họ, thì đầy ứ những tư tưởng kiêu căng, những ước muốn dâm ô, những bản năng tham lam và hà tiện. Tất cả những ước ao xấu xa này đều đòi cho được thoả mãn những lạc thú tội lỗi. Họ phạm các tội này cách công khai mà không hổ thẹn. Họ còn cho vay ăn lãi, là điều Cha đã cấm, và cũng là điều làm cho họ sẽ bị trừng phạt nặng nề.

Những tội lỗi như thế của các thừa tác viên, khiến họ không dám sửa lỗi nơi các kẻ dưới quyền mình. Về các nết xấu của các tu sĩ. Về những tai vạ bởi không sửa mình.

  1. Làm sao các thừa tác viên mắc nhiều tội lỗi như thế, có thể thi hành sự công chính và quở trách cũng như sửa phạt những lỗi lầm nơi các kẻ thuộc quyền mình? Không thể có là điều chắc: tội lỗi của họ làm họ mất can đảm và không còn nhiệt tình cho sự công chính nữa. Đôi khi họ muốn quở trách, nhưng họ sẽ bị các kẻ bề dưới vặn lại: “Hỡi thầy thuốc, hãy tự chữa cho mình trước đi, rồi mang thuốc đến cho tôi, khi đó tôi sẽ uống thuốc của ông. Ông có tội còn nặng hơn tôi, vậy mà ông lại muốn kết án tôi sao?” (Xc Lc 4:23).

Đúng vậy, ai sửa lỗi người khác chỉ bằng lời nói, mà không kèm theo một cuộc sống tốt lành, thì đã làm một việc lố bịch. Tuy nhiên, tốt hay xấu, bề trên vẫn có bổn phận sửa lại những nết xấu nơi các kẻ dưới quyền mình. Bề trên nào không sửa mình bằng một đời sống tốt lành và thánh thiện, thì đã không làm tròn bổn phận này. Nhưng kẻ đáng trách hơn vẫn là kẻ không khiêm nhường nhận lỗi và không sửa mình, dầu sự sửa lỗi do một bề trên tốt hay xấu. Bởi vì chúng làm hại mình, chứ không hại ai khác.

Con rất yêu dấu của Cha, tất cả những tai vạ này đều do các mục tử không sửa lỗi các kẻ thuộc quyền mình, bằng một đời sống tốt lành và thánh thiện. Mà tại sao các vị không sửa lỗi các kẻ dưới quyền mình? Vì họ bị mù quáng bởi tính tự ái, mà tính tự ái là căn nguyên mọi điều bất chính. Con chiên, chủ chăn, giáo sĩ, tu sĩ, tất cả đều chỉ lo tìm cuộc sống thoải mái vui chơi. Tất cả mọi lo nghĩ của họ là tìm cách thoả mãn những ước muốn hỗn loạn tha hoá.

Ôi, con dịu dàng của Cha, còn đâu đức vâng lời của các tu sĩ? Được sống trong các tu viện như những thiên thần, nhưng họ xấu xa hơn ma quỷ. Họ có nhiệm vụ rao giảng Lời của Cha theo giáo lý của Đấng Chân Lý, những lời giảng của họ nhằm làm đẹp ý người ta, làm khoái tai người nghe, hơn là tôn vinh danh Cha. Họ không lo sống thánh thiện, mà chỉ lo mài giũa những câu hay ý đẹp của chúng. Họ không phải là những người lo đi gieo hạt giống tốt của Chân Lý, vì họ không lo diệt trừ các nết xấu, và làm cho các nhân đức tái sinh. Họ không nhổ gai góc trong vườn của họ, làm sao họ có thể thu dọn gai góc trong vườn tha nhân?

Thú vui của họ là trang sức thân xác họ, trang hoàng căn phòng của họ, và đi tán chuyện khắp phố phường. Họ giống như những con cá, cá chết khi ra khỏi nước; khi ở ngoài căn phòng nhỏ, họ sẽ gặp sự chết trong cuộc sống phù phiếm và thác loạn. Đáng lẽ họ phải coi phòng mình ở là Thiên đàng, nhưng họ đi khỏi để tới nhà này sang nhà kia trên đường phố, nhà của bà con cũng như nhà của những người đời khác, tuỳ theo sở thích của họ. Các vị bề trên này đã thả dây cương cho họ, thay vì giữ họ sống nhiệm nhặt. Những vị mục tử bất trung đó không lo nghĩ gì về các bề dưới, những anh em của mình có thể sa vào tay ma quỷ. Nhiều khi chính họ trao chúng cho ma quỷ.

Đôi khi họ biết những anh em này là những tên quỷ nhập, vậy mà vẫn sai chúng đến những nơi tiếp xúc với những nữ tu xấu không khác gì quỷ cái nhập thể. Chúng làm hư lẫn nhau bằng những mưu trò tinh vi. Lúc đầu ma quỷ còn khuyến khích chúng bằng màu sắc đạo đức. Nhưng vì đời sống của chúng đã sẵn tồi tệ, nên chúng đã sớm để rớt cái bề mặt giả dối này, sự đạo đức giả hình của chúng đã sinh hoa trái. Trước hết là những bông hoa thối, những tư tưởng dâm ô xấu xa, kèm theo những chiếc lá là những lời nói và cử chỉ lẳng lơ, và sau cùng kết thúc bằng việc thực hiện ước mơ tội lỗi. Hoa trái mà chúng sinh ra, con đã thấy và con biết rõ, đó là những đứa con hoang. Nhiều trường hợp chúng lần lượt giã từ đời tu, để từ nay anh làm tên phiêu đãng, còn chị thì trở thành một kẻ tội lỗi công khai.

Những bề trên không trông coi các bề dưới của mình, là căn nguyên những tai vạ này và nhiều tai vạ khác nữa. Họ để chúng tự do, chính họ sai chúng đi, làm bộ như không biết chúng chán ghét căn phòng nhỏ của chúng. Bởi vậy, do lỗi của cả hai bên, các tu sĩ đó phải gặp cái chết. Không lưỡi nào kể xiết những bất chính và những phương tiện tội lỗi chúng dùng để xúc phạm đến Cha. Chúng đã trở thành những vũ khí của ma quỷ, và sự thối nát của chúng gieo rắc thuốc độc ở bên trong lẫn bên ngoài nhà dòng: bên ngoài thì gây gương mù cho người đời, ở trong thì gây hại cho chính các anh chị em cộng đoàn.

Chúng đã mất hết tình bác ái huynh đệ, mỗi người đều muốn làm bề trên, ai cũng tìm cách có của cải, và như vậy tất cả đều sống ngoài luật dòng và nghịch với lời khấn. Họ đã hứa tuân giữ hiến pháp của dòng tu, nhưng họ đã vi phạm hiến pháp. Không những chúng lỗi luật, chúng còn làm như chó sói tấn công những con chiên muốn tuân giữ luật dòng: chúng đả kích và chế nhạo họ. Chúng tưởng, với hành vi đả kích, những lời khinh chê và nhạo báng các tu sĩ tốt lành và trung thành với lề luật, chúng có thể che dấu được những lầm lỗi của chúng; nhưng sự thật, chúng càng phơi bày tội lỗi của chúng ra mà thôi.

Đó là tai hoạ đang xâm lấn những vườn bông của các dòng tu thánh thiện. Các dòng tu này là thánh vì đã được thành lập và xây dựng bởi Chúa Thánh Thần. Bởi vậy, các dòng tu không bị huỷ hoại hay ra thối nát do lỗi của các bề trên hay bề dưới. Ai muốn gia nhập một dòng tu thì không nên nhìn vào những thành phần xấu ấy, nhưng chỉ nên nhìn vào sức mạnh tinh thần, tức hiến pháp và kỷ luật của dòng tu đó. Sức mạnh này không bao giờ suy yếu, nhưng sẽ bền vững mãi cho những tu sĩ trung thành.

Cha đang nói với con về những vườn bông dòng tu bị tan hoang bởi tội lỗi bất trung của các bề trên xấu: họ không tuân theo hiến pháp của dòng. Họ vi phạm luật dòng, không vâng giữ luật lệ, mà chỉ lo đến chi tiết nghi lễ, chỉ lo mở lễ hội linh đình, nhằm thu hút sự ái mộ của người đời, để có một cái áo choàng che đậy những tính mê nết xấu của họ. Con xem họ tuân giữ lời khấn đầu tiên của họ là vâng lời hiến pháp dòng như thế đó: rõ ràng họ không tuân giữ nhân đức này. Cha sẽ nói với con riêng về đức vâng phục.

Họ cũng đã khán giữ đức khó nghèo và đức khiết tịnh. Vậy họ đã giữ hai nhân đức này ra sao? Con hãy xem những tài sản và tiền bạc họ đang giữ riêng cho mình, trái với đức bác ái thông thường dạy phải chia sẻ với anh em mình những của cải vật chất và tinh thần, cũng như trái với luật dòng. Nhưng họ chỉ nuôi béo thân xác họ và những thú vật của họ, và như vậy thú vật này nuôi dưỡng thú vật kia, trong khi bên cạnh họ có những anh em nghèo, chết vì đói rét. Còn những tu sĩ ấy thì mặc ấm ăn ngon, họ không quan tâm gì đến những anh em túng thiếu, họ tránh không muốn ngồi chung với các anh em này tại bàn ăn nghèo nàn của nhà dòng. Thú vui của họ là đến những nơi được ăn uống thoả thích, ăn no thịt thà bơ sữa, sao cho thoả mãn tính háo ăn của họ.

Những tu sĩ như thế không thể giữ lời khấn thứ ba về khiết tịnh được. Một bao tử đầy thức ăn ngon không thể giữ cho linh hồn tinh khiết được. Họ ra ẻo lả, cảm thấy những dấy động xác thịt, rồi lầm lỗi này đưa tới những lầm lỗi khác. Tiền bạc tư túi đã là cớ cho những tu sĩ này sa ngã. Nếu họ không có tiền để tiêu xài như thế, họ đã không sống thác loạn như vậy, và đã không duy trì những thứ tình bạn đáng nghi ngờ như thế.Khi người ta không có gì để cho nữa, thì tình cảm và những mối tình không xây trên nền bác ái đích thực, mà chỉ dựa trên quà tặng và thú vui, sẽ không thể bền lâu.

Ôi, những kẻ bất trung! Do tội lỗi của họ, họ đã sa vào chỗ khốn nạn chừng nào! Những kẻ mà Cha đã chọn và đưa lên bậc cao trọng! Họ trốn tránh cung nguyện như trốn tránh ôn dịch, và nếu đôi khi có mặt, thì cũng chỉ hiện diện bằng tiếng nói của họ mà thôi, tâm hồn họ thì ở xa Cha. Đối với bàn tiệc Thánh, họ làm vì thói quen như đi vào một bữa ăn thường này.

Tất cả những tồi tệ này và nhiều điều xấu xa khác, Cha phải bỏ qua kẻo làm khổ cho cái tai của con, đều do tội biếng nhác của các bề trên xấu, không lo sửa phạt những sai lỗi của các kẻ thuộc quyền mình. Họ không quan tâm gì đến luật dòng, không nhiệt thành lo cho người ta tuân giữ luật dòng, vì bản thân họ cũng không khá hơn. Họ miễn trừ cho mình nhiều gánh nặng đức khó nghèo, và bắt các anh em trung thành phải mang lấy cái ách của lề luật. Nếu cần, họ cũng sửa phạt nơi anh em những lỗi mà bản thân họ không phạm. Họ làm như thế, vì viên ngọc công chính không sáng tỏ nơi họ, mà chỉ có sự bất chính. Sự bất chính này khiến họ dành sự nghiêm khắc và thù ghét đối với những anh em, đáng lẽ phải được họ quý mến và ưu đãi; trong khi họ lại dành mối thịnh tình và nhiều ân huệ cho những chân tay của ma quỷ như họ. Họ tạo cho những bộ hạ này nhiều chức vụ trong cộng đoàn.

Họ sống như những người mù, họ giám quản cộng đoàn và phân công cùng trao chức vụ cách thiên lệch và tuỳ tiện. Nếu họ không sửa mình, sự mù quáng của họ sẽ dẫn họ đến chốn tối tăm, đến án phạt muôn đời, và họ sẽ phải trả lẽ Cha, vị Thẩm Phán tối cao, về những linh hồn của những kẻ dưới quyền họ. Họ sẽ không thể bào chữa cho mình được, và như vậy họ sẽ phải nhận lấy một bản án xứng đáng.

Cám ơn sự hỗ trợ, động viên để duy trì và phát triển website. Mọi đóng góp xin gửi về:
Người nhận: Hoàng Nhật Minh
Số tài khoản: 103873878411
Ngân hàng: VietinBank

Bài Trước Đó Bài Tiếp Theo

Thư Viện Sách NóiTủ Sách Tâm Linh