Đối Thoại Của Thánh Catarina Sienna: Chương 3. Chúa Cha Thương Xót Hội Thánh P1

ĐỐI THOẠI CỦA THÁNH CATARINA SIENNA: CHƯƠNG 3. CHÚA CHA THƯƠNG XÓT HỘI THÁNH P1

Cải cách hàng Giáo phẩm

Về chức vụ linh mục và về bí tích Mình Thánh Chúa Kitô. Những người rước lễ cách xứng đáng và những người rước lễ cách không xứng đáng.

  1. Bây giờ Cha sẽ trả lời câu con hỏi, liên quan đến các thừa tác viên của Hội Thánh. Để biết rõ sự thật hơn, con hãy mở mắt trí tuệ ra mà chiêm ngắm chức vụ cao trọng, Cha đã nâng họ lên. Vì khi nhìn vào diện tương phản, người ta thấy rõ sự vật hơn. Cho nên, Cha muốn tỏ cho con thấy sự cao trọng và phẩm giá của những người sống nhân đức, thi hành cách thánh thiện sứ vụ phân phát kho báu mà Cha đã đặt vào tay họ. Như thế, con sẽ hiểu rõ hơn nỗi bất hạnh của những con người đang sống bất xứng giữa lòng Giáo Hội, Hiền Thê của Con Cha.

Khi đó, linh hồn ấy vâng nghe lời mời gọi, chiêm ngắm Đấng Chân Lý dịu hiền, nhìn thấy vầng sáng chói nơi những người thật sự được nếm vị ngọt ngào của nhân đức. Và Thiên Chúa hằng hữu nói với nó rằng: Con rất yêu dấu, trước hết Cha muốn nói đến tước vị mà Cha đã cất nhắc họ lên do lòng nhân hậu của Cha, không kể tình thương chung Cha dành cho các vật thụ tạo, khi Cha tạo thành họ theo hình ảnh Cha và giống Cha, và khi cho họ được tái sinh trong ân sủng, nhờ Máu Con Cha.

Nhờ sự kết hợp Cha đã thực hiện giữa thần tính của Cha và nhân tính của phàm nhân, các con được một sự cao trọng vượt xa các thiên thần, vì Cha đã mặc lấy nhân tính của các con, chứ không mặc lấy bản tính các thiên thần. Như vậy, như Cha đã nói: Thiên Chúa làm người để con người nên Thiên Chúa, nhờ sự phối hiệp của hai bản tính. Sự cao cả này là một ân huệ chung cho tất cả mọi thụ tạo có lý trí. Nhưng trong loài người, Cha đã chọn lấy những thừa tác viên của Cha, để họ lo cho ơn cứu độ của các con, để họ ban phát cho các con Máu của Con Chiên vẹn sạch, Con Một của Cha. Cha đã ban cho họ chức năng ban phát mặt trời, vì Cha đã uỷ thác cho họ ánh sáng của sự thông thái và sức nóng của đức ái thần linh, cùng với mầu sắc gắn liền với ánh sáng và sức nóng, tức Mình và Máu Con Cha.

Thân mình này đích thực là một Mặt Trời, vì là một với Cha. Và sự hiệp nhất này rất lớn lao, đến nỗi không thể nào phân chia hay tách rời nhau. Cũng như người ta không thể nào tách rời sức nóng ra khỏi ánh sáng của mặt trời, hay tách rời ánh sáng ra khỏi sức nóng, bởi vì sự hiệp nhất của chúng rất trọn vẹn.

Mặt trời chiếu toả ánh sáng xuống trên cả vũ trụ mà không rời khỏi hoàng đạo, cũng không bị phân tán từng mảnh. Bất cứ ai muốn, đều được chia sẻ sức nóng của nó. Không một sự dơ bản nào bén mảng tới nó, và ánh sáng chính là nó.

TRA CỨU THẦN SỐ HỌC Đóng Xem Đường Đời, Sự Nghiệp, Tình Duyên, Vận Mệnh, Các Năm Đỉnh Cao Cuộc Đời...
(*) Họ và tên của bạn:
(*) Ngày tháng năm sinh:
 

Khoa học khám phá bản thân qua các con số - Pythagoras (Pitago)

Cũng vậy, Ngôi Lời Con Cha, với Máu châu báu của Ngài, là một Mặt Trời, là Thiên Chúa trọn vẹn, và là người trọn vẹn, vì Ngài và Cha là một, Cha và Ngài là một. Quyền năng của Cha không tách rời khỏi sự khôn ngoan của Ngài, và sức nóng, tức lửa của Thánh Thần, cũng không chia cắt khỏi Cha, hay là khỏi Ngài là Con, bởi vì Thánh Thần xuất phát từ Cha và Con mà ra: Chúng ta cùng là một Mặt Trời.

Cha là mặt trời, là Thiên Chúa hằng hữu, từ Cha nhiệm xuất Chúa Con và Chúa Thánh Thần, sức nóng được biệt ứng Chúa Thánh Thần, và sự khôn ngoan được biệt ứng Chúa Con; chính trong sự khôn ngoan này mà các thừa tác viên của Cha nhận được ánh sáng ân sủng, vì họ là những người phân phát ánh sáng này với sự sáng và lòng biết ơn các hồng ân họ đã nhận được từ nơi Cha, khi họ tuân theo giáo lý của Đấng Khôn Ngoan là Con Một Cha.

Ánh sáng ân sủng có màu sắc bản tính nhân loại của các con, vì ánh sáng thần tính Cha đã kết hợp với màu sắc của bản tính nhân loại. Màu sắc này đã trở nên rực rỡ khi nó nhờ bản tính thần linh của Cha mà trở nên bất diệt. Nhờ cách này, nghĩa là nhờ Ngôi Lời nhập thể, phối hiệp cách chặt chẽ với ánh sáng thần tính của Cha và với sức nóng lửa Thánh Thần, mà chúng con đã nhận được Ánh Sáng. Cha đã trao việc phân phát Ánh Sáng này cho ai? Cho các thừa tác viên của Cha, trong nhiệm thể của Hội Thánh, để các con có sự sống, khi lãnh nhận từ nơi họ Mình Thánh Con Cha làm của ăn và Máu Thánh Con Cha làm của uống.

Cha đã nói với con: Thân Mình này là một Mặt Trời. Thân Mình Chúa Kitô không thể ban cho các con, mà đồng thời Máu không được ban, cũng như Mình và Máu Chúa Kitôkhông thể ban, mà linh hồn Ngôi Lời không được ban; cũng thế, linh hồn và thân thể Chúa Kitô không thể ban mà Thần tính của Cha là Chúa Cha hằng hữu không được ban. Cái này không thể có mà không có cái kia. Như Cha đã nói với con ở một chỗ khác, thần tính không bao giờ tách rời khỏi nhân tính nơi Ngôi Lời: dầu sự chết, dầu bất cứ sự gì cũng không thể phân chia hai bản tính đó. Vậy, các con nhận được tất cả bản tính thần linh trong bí tích êm ái này, dưới màu trắng của Bánh thánh, cũng như mặt trời không thể bị phân chia ra, thì cũng vậy, tất cả thần tính và tất cả nhân tính ở dưới màu trắng của tấm bánh thánh. Người ta có phân chia bánh thánh ra thành trăm ngàn mảnh nhỏ bé, thì nơi mỗi mảnh nhỏ bé đó, vẫn có tất cả Thiên Chúa và tất cả con người của Chúa Kitô. Như khi đập tấm gương làm nhiều mảnh, người ta có trọn vẹn hình ảnh trong mỗi mảnh gương; khi phân chia Bánh thánh cũng vậy, người ta không phân chia Thiên Chúa, cũng không phân chia con người của Chúa

Kitô, nhưng nơi mỗi mảnh bánh có tất cả Thiên Chúa làm người, cũng không có gì làm Ngài hao giảm được, như ví dụ về lửa sẽ làm cho con hiểu.

Nếu con có một đèn cháy sáng, và mọi người muốn nhờ đó mà thắp sáng đèn của họ, ánh sáng đèn của con sẽ không vì thế mà hao hụt, và mỗi người đều có đèn sáng. Nhưng người đến châm lửa, đèn sáng nhiều hay ít là tuỳ ở cái đèn mang tới tốt hay xấu. Một ví dụ khác sẽ giúp con dễ hiểu hơn.

Có nhiều người đến xin lửa với những cây nến khác nhau. Người này đem cây nến nặng 1 phân, người kia với cây nến 2 hay 3 phân, có người đem cây nến nặng một cân, v.v.. Tất cả mọi người đều lại gần ngọn đèn đang cháy và thắp sáng cây nến của mình. Nơi mỗi cây nến được thắp lên đó, dầu nó lớn hay nhỏ, người nào cũng nhận tất cả ánh sáng với màu sắc, sức nóng và sự sáng của nó. Nhưng con cũng thấy người mang cây nến nặng 1 phân sẽ có ít ánh sáng hơn người mang cây nến nặng 1 cân.

Những người tới bí tích này cũng thế. Mỗi người mang cây nến của mình, nghĩa là niềm ước ao thánh để nhận lãnh Mình Thánh Chúa. Cây nến sẽ được thắp sáng lên khi chúng ta lãnh nhận bí tích này. Cây nến ta mang đến là cây nến không ánh sáng, vì tự bản thân, các con không là gì hết. Cha đã ban cho các con một vật liệu làm phương tiện để các con có thể lãnh nhận và duy trì ánh sáng đó. Cái phương tiện đó ở trong tay các con là lòng yêu mến, vì Cha đã tạo thành các con do tình thương: bởi đấy, không tình thương, các con không có sự sống.

Cái thực thể mà Cha đã ban cho các con qua phép Thánh tẩy nhờ Thần lực của Máu Ngôi Lời, như là cái tim đèn cần thiết để con được dự vào ánh sáng này. Nếu không, các con sẽ như một cây nến không ngòi, một ngọn đèn không tim, nên không thể thắp sáng được. Cũng vậy, nếu linh hồn các con không có cái ngòi nến hay tim đèn đó để lãnh nhận ánh sáng đức tin, kết hợp với ân sủng các con nhận được nơi bí tích Thánh tẩy, cùng với bản tính của linh hồn đã được sáng tạo để yêu thương, đến độ không tình thương, linh hồn không thể sống được. Tình yêu chính là lương thực của linh hồn, đức tin là cái tim đèn để thắp sáng. Nhưng linh hồn được chuẩn bị như thế, sẽ châm lửa ở đâu? Ở lò lửa đức ái thần linh của Cha, bằng cách yêu mến Cha, kính sợ Cha, tuân theo giáo lý của Đấng Chân Lý dịu hiền.

Thật ra linh hồn bốc cháy nhiều hay ít, như Cha đã nói, còn tuỳ cái vật liệu làm phương tiện mà nó mang tới, để nuôi ngọn lửa đó. Mặc dầu tất cả các con có cùng một phương tiện, bởi vì các con đã được tạo thành giống hình ảnh Cha, và tất cả các con, những Kitô hữu, đều có ánh sáng của phép Thánh tẩy, nhưng mỗi người có thể tăng trưởng với lòng mến và nhân đức tuỳ theo họ muốn, với sự trợ lực của ân sủng. Không phải các con có thể thay hình đổi dạng, để có một hình ảnh khác với hình ảnh Cha ban cho các con, nhưng các con có thể gia tăng và phát triển lòng mến yêu nhân đức nhờ sự tập tành nhân đức, và phát triển tâm tình bác ái bằng luyện tập ý chí tự do của mình, trong khi các con còn thời gian; bởi vì khi hết thời gian rồi, các con không thể làm gì được nữa.

Như vậy, các con có thể tăng thêm lòng yêu mến, và với lòng mến yêu các con tới lãnh nhận bí tích huyền diệu này, ánh sáng dịu hiền và vinh quang, do các thừa tác viên của Cha phân phát cho các con làm lương thực. Các con mang càng nhiều mến yêu, càng nhiều ao ước nồng nhiệt, các con càng được tham dự nhiều vào ánh sáng thần linh này. Chúng con sẽ nhận được sự sáng như những người đi thắp đèn. Mỗi đèn đều được trọn vẹn ánh sáng, chứ không phải chỉ được một phần, vì ánh sáng không phân xẻ được, tuy sự sáng ấy nhiều hay ít là tuỳ cái đèn xấu hay tốt, lớn hay nhỏ. Ánh sáng thần linh này cũng không bị suy giảm bởi sự bất toàn của kẻ lãnh nhận, hay bởi tội lỗi của người ban phát. Nhưng các con chỉ dự phần vào ánh sáng này, chỉ lãnh nhận được ân sủng của bí tích này, theo mức độ các con chuẩn bị cho xứng đáng, và theo mức độ ước ao thánh thiện của các con. Ai tới bí tích này trong tình trạng mắc tội trọng, sẽ không nhận được ân sủng của bí tích, dầu cho người đó thật sự tiếp nhận tất cả Chúa Kitô là Thiên Chúa làm Người, như Cha đã nói với con.

Con biết linh hồn lãnh nhận bí tích cách bất xứng giống cái gì không? Nó giống như một cây nến rớt xuống nước, nó chỉ kêu lách tách khi người ta châm lửa vào. Nó không cháy sáng được, nó tắt ngay và chỉ nhả ra khói đen. Linh hồn này cũng vậy, nó mang trong mình cây nến đã nhận được khi lãnh bí tích Thánh tẩy, nhưng nó đã ném cây nến đó xuống nước của tội lỗi. Nước này đã làm ướt cái ngòi dùng để châm lửa sáng của ân sủng trong phép rửa tội. Cái ngòi này cần khô trở lại, nhờ lửa của sự thống hối ăn năn, kèm theo việc khiêm nhường xưng tội, linh hồn đó sẽ tới bàn Tiệc thánh nhận lại ánh sáng này thật sự, chứ không phải chỉ cách thiêng liêng.

Khi linh hồn không được chuẩn bị cho xứng với mầu nhiệm cao trọng này, ánh sáng đó sẽ không ở lại trong nó bằng ân sủng; ánh sáng sẽ tắt đi, và linh hồn cảm thấy mình ở trong tình trạng bối rối lớn hơn, với những tối tăm dày đặc hơn, và một tội nặng hơn phải vác lấy. Linh hồn chỉ rút ra từ bí tích này một sự cắn rứt dữ dằn hơn của lương tâm, không phải vì thiếu ánh sáng của Con Cha, nhưng vì hậu quả của thứ nước tội lỗi ở trong linh hồn, đã ngăn cản không cho nó tiếp nhận ánh sáng này.

Con biết ánh sáng của Ngôi Lời Con Cha kết hợp chặt chẽ sức nóng và màu sắc của nó. Không gì có thể phá gỡ được sự kết hợp này, dầu là sự yếu đuối của lòng ước ao lãnh nhận bí tích, dầu là tội lỗi của kẻ lãnh nhận, hay sự bất xứng của người ban bí tích. Cha đã nói với con: mặt trời chiếu soi một vật dơ bẩn không trở nên dơ bẩn, ánh sáng dịu dàng của bí tích này cũng vậy; nó không thể ra dơ bẩn, bị phân tán hay tàn lụi.

Cũng thế, Mặt Trời của Ngôi Lời, Con Một Cha không bao giờ tách rời khỏi Cha, Ngôi Cha hằng hữu, cũng là Mặt Trời, để trong nhiệm thể của Hội Thánh, Con Cha được trao ban cho mọi người muốn lãnh nhận. Ngài vẫn luôn ở trong

Cha, mà các con thì rước lấy Ngài trọn vẹn; vừa là Thiên Chúa, vừa là con người, như Cha đã đưa ra ví dụ về ánh sáng: cả thế gian đến thắp đèn nơi ánh sáng này, mọi người đều có đèn sáng, mà ánh sáng vẫn y nguyên.

Các giác quan của thân xác đều sai lầm về bí tích này, nhưng các quan năng của linh hồn thì không sai lầm. Ta phải nhìn xem, phải nếm và đụng chạm bằng các quan năng bên trong này. Một thị kiến đẹp đẽ về vấn đề này.

  1. Con rất yêu dấu của Cha, con hãy mở to mắt trí tuệ để chiêm ngưỡng vực thẳm của đức ái ở nơi Có vật thụ tạo nào mà trái tim không vỡ ra vì yêu mến, khi chiêm ngắm hồng ân của bí tích này, ngoài vô vàn hồng ân khác Cha đã ban. Con rất yêu dấu, con và những người khác phải lấy mắt của tâm trí mà nhìn và đụng đến bí tích này, vì ở đây thị giác và xúc giác của thân xác hoàn toàn bất lực.

Con mắt chỉ nhìn thấy màu trắng của tấm bánh, bàn tay chỉ sờ được bề mặt của tấm bánh, và vị giác chỉ nếm được mùi vị của bánh thôi. Ở đây, tất cả các giác quan thô thiển của thân xác đều sai lầm, nhưng quan năng của linh hồn thì không sai lầm, nếu nó muốn, nghĩa là nếu nó không vì bất trung mà bỏ mất ánh sáng đức tin chí thánh.

Ai có thể nếm, nhìn và sờ vào nhiệm tích này? Các quan năng của linh hồn. Linh hồn nhìn xem bằng mắt nào? Bằng cặp mắt của trí tuệ, miễn là mắt này có con ngươi là đức tin. Trong màu trắng của bánh, mắt này nhìn thấy trọn vẹn Thiên Chúa làm Người, thần tính kết hợp với nhân tính, thân thể, linh hồn và Máu Chúa Kitô, linh hồn kết hợp với thân xác, xác hồn kết hợp với thần tính, mà không tách rời khỏi Cha. Những điều này, nếu con còn nhớ, Cha đã cho con xem thấy hầu như ngay lúc khởi đầu cuộc sống của con, không những bằng mắt của trí tuệ, mà còn với cặp mắt của thân xác, nhưng mắt xác thịt mau chóng bị nhoà đi vì ánh sáng chói chang đó, nên chỉ có thể nhìn thấy bằng mắt trí tuệ. Cha đã ban cho con thị kiến này để con hiểu và thêm vững vàng, nhằm đối phó với những tấn công của ma quỷ liên hệ đến bí tích này, và để con tăng thêm lòng yêu mến và thêm ánh sáng đức tin rất thánh.

Hôm đó, con đi nhà thờ lúc bình minh để dự Thánh Lễ, sau khi bị ma quỷ làm khổ trước đó: con đến ngồi phía bàn thờ Chúa chịu đóng đinh trên Thập giá, còn vị linh mục đi tới bàn thờ Mẹ Maria. Con xét mình về sự bất xứng của con, con lo sợ đã xúc phạm đến Cha bởi cám dỗ mà tên ác quỷ đã gây ra cho con. Con suy nghĩ về tình thương của Cha đã cho con được dự Thánh lễ, trong khi con nghĩ mình không xứng đáng bước vào đền thờ của Cha. Khi vị linh mục chuẩn bị truyền phép, và đúng lúc ông đọc ngôn thức, con đưa mắt nhìn lên bàn thờ, Cha tỏ mình ra cho con. Con nhìn thấy một ánh sáng thoát ra từ ngực Cha, giống như luồng ánh sáng phát ra từ mặt trời mà không tách rời khỏi mặt trời. Rồi trong luồng ánh sáng ấy, một chim bồ câu đến hoà hợp với luồng ánh sáng đó, lượn bay trên bánh và chén thánh, do thần lực của lời truyền phép mà vị linh mục vừa đọc.

Lúc ấy, cặp mắt xác thịt của con đã không chịu được ánh sáng này, con chỉ có thể nhìn bằng mắt trí tuệ; con nhìn vào sự sâu thẳm của Chúa Ba Ngôi, Thiên Chúa làm người ẩn mình dưới màu trắng đó. Ánh sáng cũng như sự hiện diện của Ngôi Lời, mà tâm trí con chiêm ngắm nơi màu sắc này, đã không làm mất màu trắng của bánh. Điều này không cản trở cái kia; ngay cả việc nhìn xem Thiên Chúa làm Người trong hình bánh ấy, cũng không làm mất hình dạng tấm bánh, nghĩa là bánh không mất màu trắng và mùi vị, kể cả khả năng đụng đến.

Đó là những gì lòng nhân hậu của Cha đã cho con nhìn thấy. Con đã có thể nhìn xem bằng cách nào? Bằng mắt trí tuệ với con ngươi đức tin. Mắt trí tuệ ấy phải là phương tiện chính để nhìn xem mà không bị sai lầm. Vậy, con phải nhìn ngắm bí tích này bằng con mắt ấy.

Các con sờ đến nhiệm tích bằng cách nào? Bằng bàn tay của tình yêu. Với bàn tay này linh hồn sờ thấy những gì con mắt của trí tuệ nhìn thấy và biết được bằng đức tin trong bí tích này. Và linh hồn sờ bằng bàn tay của lòng mến yêu để biết chắc chắn về những gì mà trí tuệ đã thấy và đã biết bằng đức tin. Và nếm bí tích này bằng cách nào? Bằng vị giác của sự ước ao thánh thiện. Vị giác của thân xác chỉ nếm được hương vị của bánh, còn vị giác của linh hồn, tức niềm ước ao thánh thiện, sẽ hưởng nếm Thiên Chúa làm Người.

Con thấy chưa. Ở đây, các giác quan của thân xác thì sai lầm; còn quan năng của linh hồn thì không sai lầm, vì đã được soi sáng và xác tín bởi con mắt trí tuệ đã nhìn xem bằng con ngươi là đức tin. Sau khi đã nhìn thấy bằng đức tin, linh hồn sẽ sờ bằng bàn tay của lòng yêu mến những gì nó đã biết nhờ đức tin. Sau cùng, nhờ vị giác của nó, nhờ niềm ước ao nồng nhiệt, linh hồn nếm những gì nó đã nhìn thấy và sờ thấy, nó nếm tình thương khôn tả của đức ái nồng nhiệt của Cha. Chính tình thương này đã mời gọi nó tới mầu nhiệm cao cả, bí tích trọng đại ban ân sủng.

Con đã biết, các con không những phải suy ngắm và lãnh nhận bí tích này với mọi hành vi của giác quan, mà còn phải có những hành vi tinh thần, đặt các quan năng của linh hồn vào việc chiêm ngắm, đón nhận và hưởng nếm bí tích này với lòng mến yêu.

Về hạnh phúc của linh hồn khi lãnh nhận bí tích cao trọng này cách xứng đáng.

  1. Con rất yêu dấu của Cha, con hãy nhìn xem hạnh phúc các linh hồn đạt được, khi lãnh nhận cách xứng đáng bánh sự sống này, lương thực của các thiên thần. Khi lãnh nhận bí tích này, họ ở trong Cha, và Cha ở trong họ. Như cá ở trong biển và biển ở trong cá thế nào, thì Cha cũng ởtrong những linh hồn ấy như vậy, và linh hồn ở trong Cha là Đại Dương của bình Sau khi rước lễ, ân sủng cư ngụ trong linh hồn, nghĩa là khi lãnh nhận bánh hằng sống trong tình trạng ân sủng, ân sủng ở lại trong linh hồn, còn các tuỳ thể của bánh tiêu tan.

Cha để lại nơi các con ấn tích của ân sủng, giống như con dấu người ta áp vào sáp ong nóng, khi lấy con dấu ra, nó vẫn để lại ấn tích của nó. Cũng vậy, thần lực của bí tích này để lại trong linh hồn sự nồng nàn của đức ái thần linh Cha, sự khoan dung của Chúa Thánh Thần, ánh sáng của Đấng Khôn Ngoan, con mắt của trí tuệ có thể nhận thấy và chiêm ngưỡng Đấng Chân Lý của Con Cha. Sự khôn ngoan này làm cho linh hồn trở nên mạnh mẽ, vì nó mang ấn tích của Ngài, và vì nó được tham dự vào sức mạnh và quyền năng của Cha. Từ này, linh hồn sẽ được mạnh sức chống lại đam mê tính dục của mình, chống lại ma quỷ và thế gian.

Như vậy, con thấy ấn tích còn lại mãi, sau khi con dấu đã lấy đi, nghĩa là khi các tuỳ thể của bánh thánh tiêu tan như thể khi mặt trời trở lại hoàng đạo; không phải Mặt Trời Ngôi Lời rời khỏi Cha: Ngài luôn hiệp nhất làm một với Cha. Nhưng để ban cho các con một lương thực nơi cuộc sống lữ hành này, để mang đến cho các con một niềm an ủi, và để các con ghi nhớ hồng ân là Máu của Con Cha, tình thương vô biên của Cha đã ban Ngài làm lương thực nuôi các con, theo sự an bài của Cha, Đấng Quan Phòng. Cha đã muốn đáp ứng những nhu cầu của các con, bằng cách ban cho các con được ăn bánh Đấng Chân Lý dịu hiền của Cha.

Bây giờ, con hãy nhận xét các con có nghĩa vụ gì đối với Cha. Các con có bổn phận yêu mến Cha chừng nào, vì Cha yêu thương các con, vì Cha đã yêu thương các con dường ấy! Cha là Đấng Nhân Hậu vô cùng, đáng được tất cả lòng mến yêu của các con.

Những gì nói về sự cao trọng của bí tích Thánh Thể, sẽ giúp người ta hiểu rõ hơn về tước vị các linh mục. Tại sao Thiên Chúa lại đòi hỏi nơi các vị đó một sự trong sạch lớn hơn các tạo vật khác.

  1. Con rất yêu dấu của Cha, tất cả những gì Cha đã nói với con, là để giúp con hiểu rõ hơn về chức vụ Cha đã dành cho các thừa tác viên của Cha, và để các con càng đau đớn hơn về tội bất trung của họ. Nếu họ suy nghĩ về tước vị của mình, họ sẽ không ở trong tối tăm của tội trọng, họ sẽ không làm dơ bẩn bộ mặt linh hồn họ. Không những họ sẽ không bao giờ xúc phạm đến Cha, không bao giờ làm mất giá trị tước vị của mình; giả như hiến thân trên giàn lửa thiêu, họ vẫn chưa làm gì xứng với ân sủng trọng đại và hồng ân đặc biệt họ đã nhận lãnh. Bởi vì ở đời này, họ không thể mơ ước một tước vị nào cao hơn.

Họ là những vị được xức dầu tấn phong của Cha. Cha gọi họ là những Kitô của Cha, Cha trao cho họ chức năng ban Cha cho các con. Cha đã đặt họ như những bông hoa thơm trong nhiệm thể của Hội Thánh. Chức vụ này, Cha đã không trao cho các thiên thần, nhưng Cha đã ban cho những người mà Cha chọn làm thừa tác viên của Cha. Cha đã đặt họ làm thiên thần, và họ phải sống như những thiên thần trên mặt đất này. Cha đòi hỏi tất cả mọi linh hồn sự trong sạch và lòng bác ái. Cha đòi hỏi các linh hồn phải yêu mến Cha và yêu thương người đồng loại, tuỳ khả năng của mình mà cứu giúp tha nhân, sống hiệp nhất với nhau trong tình bác ái.

Nhưng Cha đòi hỏi nhiều hơn về đức khiết tịnh nơi các thừa tác viên của Cha, họ phải yêu mến Cha hơn, phải yêu thương tha nhân hơn. Họ phải ban phát Mình và Máu Con Cha cho tha nhân, với một đức ái nồng nhiệt, sự đói khát ơn cứu độ các linh hồn, cho danh Cha được rạng rỡ và vinh quang. Cũng như họ muốn chén thánh để dâng lễ phải thanh sạch, thì Cha cũng muốn trái tim và linh hồn họ phải thanh khiết. Vì thân xác là dụng cụ của linh hồn, Cha yêu cầu họ phải giữ gìn thân xác trong đức ái hoàn thiện; họ đừng để thân xác ra dơ nhớp bởi bùn đen của tội phạm đức khiết tịnh; họ chớ kiêu căng, đừng lo tìm kiếm các chức tước trong Giáo Hội; họ đừng tỏ ra độc ác với bản thân và với tha nhân. Nếu họ độc ác với chính mình bởi đời sống tội lỗi, thì cũng do đấy mà độc ác đối với các linh hồn tha nhân: không nêu gương sáng cho kẻ khác bằng đời sống đạo đức, không lo cứu các linh hồn khỏi tay ma quỷ, không lo ban phát Mình và Máu Con Cha, không lo ban Cha là Ánh Sáng đích thực qua các bí tích khác của Hội

Thánh. Như vậy, họ không thể độc ác với bản thân mà không độc ác đối với tha nhân.

Không được mua bán các bí tích. Những kẻ lãnh nhận các bí tích phải cấp những nhu cầu trần thế cho các thừa tác viên. Các vị này phải chia của dâng cúng làm 3 phần.

  1. Cha muốn các linh mục của Cha phải quảng đại, không hà tiện, đừng vì tham lam của cải và hà tiện mà bán ân sủng của Chúa Thánh Thần, cũng là của Cha (Xc Cv 8:18-20). Không, họ không được làm thế, Cha không muốn họ làm như vậy. Những gì họ có đều là những hồng ân từ nơi Cha, do sự quảng đại của đức ái, của lòng nhân hậu Cha. Nên họ phải ban phát với tấm lòng rộng rãi, vì tình thương, vì tôn vinh Cha và vì ơn cứu độ các linh hồn (Xc Mt 10:8). Họ phải ban phát cho tất cả những ai xin họ cách khiêm tốn. Họ không được đòi bất cứ giá nào, vì họ đã không phải mua các bí tích đó. Họ đã nhận được từ nơi Cha cách nhưng không để phục vụ anh em mình. Nhưng họ được phép nhận trợ cấp, vì những kẻ lãnh nhận bí tích này có nghĩa vụ tuỳ sức mình mà lo cho các linh mục những nhu cầu trần thế. Các con có bổn phận lo phần vật chất cho các vị ban phát lương thực thiêng liêng cho mình.

Điều chính đáng là các con cung cấp những nhu cầu cần thiết trần gian, cho những người nuôi dưỡng chúng con bằng ân sủng và bằng những hồng ân Chúa Thánh Thần, qua việc ban phát các bí tích mà Cha đã lập nên trong Hội Thánh, để lo ơn cứu độ cho các con (Xc 1Cr 9:11). Và Cha nói để các con hay: các vị đó cho các con nhiều hơn những gì các con giúp đỡ họ; bởi vì không thể so sánh những sự vật hữu hạn và phù vân mà các con cung cấp cho họ, với những gì mà sự quan phòng của đức ái Cha đã truyền thông cho họ thông ban cho các con. Và điều này không chỉ đúng cho bí tích này, mà còn đúng cho bất cứ ân sủng thiêng liêng nào, mà người ta nhờ lời cầu nguyện hay phương cách nào khác, để xin Cha ban cho các con. Tất cả mọi của cải trần gian không bao giờ có thể so sánh, với những hồng ân thiêng liêng mà các con nhận được.

Bây giờ, Cha nói cho con biết: những của cải các con dâng cúng cho các thừa tác viên của Cha, thì họ phải chia làm 3 phần: một phần để lo cho những nhu cầu bản thân họ, một phần dành cho người nghèo, một phần dâng cho Giáo Hội để lo những việc cần thiết trong cộng đồng Hội Thánh. Nếu họ hành xử cách khác, họ sẽ mắc lỗi với Cha.

Về tước vị linh mục. Thần lực của các bí tích không bị suy giảm đi, do tội phạm của những người ban phát, hay của những người lãnh nhận. Thiên Chúa không muốn người đời tự cho mình cái quyền sửa dạy các thừa tác viên của Ngài.

  1. Các thừa tác viên yêu quý và vinh hiển của Cha đã hành động như đã nói trên. Họ là những người mà Cha đã hứa sẽ cho con nhìn xem công trạng của họ, không kể chức vụ cao quý Cha đã dành cho họ, khi biến họ trở thành những Kitô của Khi thi hành chức vụ này một cách thánh thiện, họ mặc lấy Mặt Trời phúc hậu và vinh hiển, mà Cha đã trao cho họ để thông ban ơn lành cho các con. Con hãy nhìn xem Grêgôriô, Sylvestre và những vị Giáo hoàng kế vị Phêrô, trước và sau chư vị này, Phêrô là vị Giáo hoàng đầu tiên đã nhận chìa khoá Nước Trời, khi được Đấng Chân Lý của Cha phán bảo rằng: “Phêrô, Thầy trao cho anh chìa khoá Nước Trời. Những gì anh tháo cởi ở dưới đất, cũng sẽ được tháo cởi ở trên Trời, và những gì anh cầm buộc ở dưới đất, cũng sẽ bị cầm buộc ở trên Trời” (Mt 16:19). Con rất yêu dấu, khi tỏ cho con vẻ đẹp nhân đức của những vị đó, Cha muốn làm cho con hiểu rõ hơn về tước vị, mà Cha đã nâng các vị thừa tác viên của Cha lên.

Chìa khoá mở Nước Trời là chìa khoá Máu Con Một Cha, nhờ chìa khoá này sự sống vĩnh cửu đã được mở ra, vì nó đã bị đóng lại từ lâu bởi tội của Ađam. Cha đã ban Chân Lý Ngôi Lời Con Cha cho các con, Ngài đã chịu khổ hình, đã chịu chết. Nhờ cái chết của Ngài, Ngài đã huỷ diệt sự chết của các con và tắm gội các con trong Máu của Ngài. Do thần lực của bản tính Thiên Chúa kết hợp với bản tính loài người, Máu và sự chết của Ngài đã mở cửa sự sống muôn đời cho nhân loại.

Ngài đã để lại chìa khoá Máu này cho ai? Cho tông đồ Phêrô vinh hiển và những vị đã đến và sẽ đến kế vị ông Phêrô, cho tới ngày phán xét. Vậy tất cả đã có và sẽ có quyền bính như Phêrô, không một lầm lỗi nào của chư vị làm suy giảm quyền bính này, hoặc làm yếu đi sức mạnh của Máu này trong các bí tích. Bởi vì, như Cha đã nói với con, không một vết nhơ nào có thể làm lu mờ Mặt Trời, và ánh sáng của Mặt Trời này không thể ra u tối bởi những tối tăm của tội trọng, dầu là tội của người ban phát, dầu là tội của kẻ lãnh nhận. Tội lỗi của họ không gây hại chút nào cho các bí tích của Hội Thánh, hoặc làm giảm bớt thần lực của các bí tích, có chăng chỉ giảm đi ân sủng hay gia tăng tình trạng tội lỗi nơi người ban phát, hoặc nơi kẻ lãnh nhận các bí tích đó cách bất xứng.

Như vậy, đức Giáo hoàng là Đức Kitô của Cha trên trần gian, ngài nắm giữ chìa khoá của Máu Thánh. Chắc con còn nhớ bằng một cách bóng bảy Cha đã trình bày chân lý này cho con, để con hiểu: Cha muốn người đời phải kính trọng các thừa tác viên của Cha, dầu họ tốt hay xấu; và chúng sẽ xúc phạm đến Cha, nếu bất kính đối với họ. Con nhớ Cha đã tỏ cho con thấy nhiệm thể của Hội Thánh, dưới hình ảnh một kho rượu, trồn trữ Máu Thánh Con Cha. Chính Máu này làm nên giá trị của tất cả các bí tích mang lại thần lực và sự sống.

Ngồi trước kho rượu này là Đức Kitô của Cha trên trần gian: ngài được trao cho việc phân phát Máu Thánh. Ngài có nhiệm vụ đặt lên những thừa tác viên để giúp Ngài ban phát Máu này cho các Kitô hữu trên toàn thế giới. Ai được Ngài ưng chọn và thánh hiến thì trở thành thừa tác viên, những người khác không được. Do ngài mà nảy sinh phẩm trật giáo sĩ, và chính ngài chỉ định cho mỗi người một chức vụ để phân phát Máu châu báu này.

Vì Ngài là người chọn các phụ tá cho mình, đặt mỗi người vào một chức vụ, nên chỉ mình ngài có quyền sửa dạy họ về các lỗi phạm của mỗi người. Cha muốn như thế. Vì lý do phẩm chức và quyền bính Cha đã mặc cho họ, Cha đã lôi kéo họ ra khỏi, đã giải thoát họ khỏi sự thống trị của các vua chúa trên trần gian. Luật đời không có quyền gì đối với họ, luật đó không có quyền trừng phạt họ. Họ chỉ thuộc quyền đấng có quyền hành cai trị và giám quản theo luật của Thiên Chúa. Sách Thánh có lời chép rằng: “các ngươi chớ đụng tới các người Ta xức dầu tấn phong!” (Tv 104:15). Tai vạ lớn nhất có thể xảy đến cho những ai dám tự đặt mình làm thẩm phán và xử án họ.

Thiên Chúa coi những việc bách hại Giáo Hội và các thừa tác viên, là bách hại chính Ngài. Tội này nặng hơn bất cứ tội nào khác.

  1. Nếu con hỏi Cha, tại sao tội bách hại Hội Thánh là tội nặng hơn mọi tội khác, và tại sao tội lỗi của các thừa tác viên không làm giảm sự kính trọng người ta phải dành cho họ, không phải vì họ, mà vì Cha, do thần lực của Máu Thánh mà Cha đã trao cho họ việc phân phát. Ngoài lý do này, các con chỉ kính trọng họ như những người khác mà thôi, không có gì hơn. Chính vì thừa tác vụ mà họ phải chu toàn, mà các con buộc phải kính trọng họ. Các con đến với họ, không phải vì họ, nhưng vì quyền năng Cha đã ban cho họ, mỗi khi các con muốn lãnh nhận các bí tích của Giáo Hội. Nếu có thể lãnh nhận các bí tích, mà các con không muốn đến, thì các con sẽ chết trong án phạt.

Vậy, sự trọng kính kia không nhắm vào họ, nhưng nhắm vào Cha, nhắm vào Máu châu báu là một với Cha, do sự kết hợp giữa bản tính Thiên Chúa và bản tính nhân loại. Nếu sự tôn kính dành cho Cha, thì sự bất kính cũng nhằm vào Cha. Như Cha đã nói với con, các con không phải kính trọng họ vì họ, nhưng vì quyền bính Cha đã trao cho họ. Cũng vậy, khi phạm đến họ, các con không phạm đến họ, mà là phạm đến Cha. Đó là điều Cha đã ngăn cấm: “các ngươi đừng đưa tay đả động đến những kẻ Ta xức dầu tấn phong, chớ làm hại các ngôn sứ của Ta” (1 Sb 16:22). Không, Cha không muốn vậy.

Người ta đừng nói chữa mình: “Tôi không làm hại Giáo Hội, tôi không chống lại Giáo Hội, tôi chỉ chống lại những nết xấu của vị mục tử xấu”. Ai nói như thế là nói dối và tự lừa dối mình. Tính tự ái làm nó mù quáng, không cho nó nhìn rõ; nói đúng hơn, nó nhìn rõ, nhưng làm bộ không thấy, để dập tắt những trách móc của lương tâm. Nếu nó thành thật, nó sẽ biết; nó không bách hại người phàm, nhưng bách hại Ngôi Lời Con Cha; và nhục mạ Ngài hay tôn trọng Ngài cũng là nhục mạ hay tôn trọng Cha. Vậy thì tất cả mọi phá hoại, mọi khinh bỉ, mọi sỉ vả, mọi chê trách các thừa tác viên của Cha, đều nhắm vào Cha. Cha coi những gì người ta làm cho các thừa tác viên của Cha là làm cho Cha. Vì thế Cha đã nói và Cha lặp lại rằng: “Cha không muốn người ta đả động đến các kẻ Cha đã tấn phong”. Chỉ mình Cha có quyền sửa phạt họ.

Các kẻ dữ tỏ ra bất kính Máu Thánh, và không quý trọng kho báu Cha đã ban cho, để lo ơn cứu độ và sự sống linh hồn chúng. Cha còn có thể làm gì hơn là ban chính Con Cha, trọn vẹn Thiên Chúa làm Người, để làm lương thực nuôi các con? Bởi vì chúng không biết tôn kính Cha nơi các thừa tác viên của Cha, nên chúng không kính trọng họ, mà còn bách hại họ, lấy cớ đã khám phá nơi họ nhiều tội lỗi và nết xấu, như Cha sẽ nói với con sau này. Nếu chúng thật sự kính trọng vì Cha, thì chúng đã không bỏ kính trọng họ vì họ có nhiều nết xấu. Bởi vì không một nết xấu nào làm suy giảm chút nào thần lực của Máu Thánh Con Cha. Bởi thế, sự trọng kính họ phải giữ y nguyên; giảm bớt sự trọng kính ấy là xúc phạm đến Cha.

Sự xúc phạm này làm Cha đau lòng hơn mọi xúc phạm khác, vì nhiều lý do.

Cha sẽ nói cho con nghe 3 lý do chính sau đây:

Lý do thứ nhất, là điều gì chúng làm cho các thừa tác viên của Cha là làm cho chính Cha.

Lý do thứ hai, là chúng đã vi phạm điều răn Cha truyền, vì Cha đã cấm không ai được đụng đến những người Cha đã xức dầu tấn phong. Chúng đã khinh thường thần lực của Máu Thánh mà chúng đã lãnh nhận nơi bí tích Thánh tẩy, chúng bất tuân vì đã làm điều bị cấm. Chúng đã đứng lên chống lại Máu Thánh bằng sự thiếu lòng tôn kính, và bằng cuộc bách hại. Như vậy, chúng là những chi thể thối nát, phải cắt lìa khỏi Nhiệm thể của Hội Thánh, chúng sẽ bị án tiêu diệt. Tuy nhiên, nếu vào giờ phút cuối cùng chúng khiêm nhường nhận lỗi của chúng, nếu chúng muốn hoà giải với các bề trên của chúng mà không được, chúng vẫn được lòng thương xót của Cha! Thật vậy, nhưng đó không phải là lý do để chờ đợi giây phút cuối cùng này, vì là điều không chắc.

Lý do thứ ba, là làm cho tội của chúng trở nên nặng hơn các tội khác, vì tội này do lòng độc ác, có mưu tính. Chúng biết rõ rằng: theo lương tâm, không được làm như thế. Vậy mà chúng cứ làm, nên chúng xúc phạm đến Cha vì ác ý và kiêu căng, chứ không vì yếu đuối xác thịt.

Đó là những kẻ giết hại linh hồn và thân xác mình. Linh hồn chúng bị giết vì mất ân sủng và bị cắn rứt bởi con sâu của lương tâm. Của cải vật chất của chúng phung phí để làm tôi ma quỷ, còn thân xác chúng thì sau cùng phải hư nát như súc vật.

Như vậy, tội phạm này trực tiếp chống lại Cha, không vì lợi ích bản thân chúng, cũng không vì thú vui xác thịt, nhưng chỉ vì độc ác và kiêu căng. Sự kiêu căng này bắt nguồn từ tính tự ái và vì sợ hãi can phạm, như Philatô đã vì sợ mất chức quyền, nên đã lên án giết Chúa Kitô Con Một Cha. Những kẻ ra tay phạm đến những người Cha xức dầu cũng đã làm như vậy.

Nhiều tội người ta phạm vì yếu đuối hoặc vì ngu dại, thiếu hiểu biết, cũng có thể vì ác ý hay cố ý, nhưng vẫn chính là để thoả mãn lạc thú xác thịt, hay vì lợi ích bản thân người ta tưởng tìm kiếm được. Các tội này làm hại linh hồn, xúc phạm đến Cha và tha nhân: chúng xúc phạm đến Cha, vì làm mất danh dự và vinh quang của Cha; chúng xúc phạm đến tha nhân, vì mất tình thương của đức ái. Tuy nhiên, các tội này không trực tiếp đụng tới Cha, không nhắm thẳng vào Cha, mặc dầu chúng làm phiền lòng Cha vì linh hồn đó phải hư đi.

Còn như cái tội mà Cha than phiền đây, nó trực tiếp nhắm thẳng vào Cha. Các tội khác còn được che đậy bằng một lý do nào đó, người ta phạm các tội ấy vì một lợi ích nào đó, chúng không trực tiếp chống lại Cha. Bởi vì, như Cha đã nói với con, mọi nết xấu cũng như mỗi nhân đức đều được thể hiện thông qua tha nhân. Nghĩa là người ta phạm tội vì thiếu đức ái đối với Cha và đối với tha nhân, còn nhân đức thì tạo được nhờ đức ái. Xúc phạm đến tha nhân là vì xúc phạm đến Cha ở trong tha nhân.

Nhưng trong số các tạo vật có lý trí, Cha đã lựa chọn một số người làm thừa tác viên, họ đã được xức dầu, để trở thành những người ban phát Mình và Máu Con Cha, nghĩa là để máu thịt loài người của các con hiệp nhất với bản tính thần linh của Cha: khi các linh mục đọc ngôn thức thánh hiến, họ đại diện chính Ngôi Vị Chúa Kitô Con Cha. Như con đã biết, tội phạm đến người được Cha xức dầu là tội phạm đến Ngôi Lời của Cha. Mà phạm đến Ngôi Lời là phạm đến Cha, vì Chúng Ta là một. Bọn vô phúc! Chúng bách hại Máu Thánh, và chúng làm cho mình mất đi hoa trái của Máu Thánh!

Bởi vậy, tội bất chính này làm Cha đau đớn hơn các tội khác, vì sự xúc phạm này không nhắm vào các thừa tác viên của Cha, nhưng nhắm vào Cha. Cha không coi sự vinh quang, hay những bách hại là dành cho họ, nhưng là dành cho Cha, nghĩa là nhắm vào Máu Thánh Con Cha, mà Con Cha và Cha là một. Bởi vậy, Cha khẳng định với con: nếu đem tất cả các tội khác người ta đã phạm cho đến nay, đặt lên một dĩa cân, và đặt tội này lên dĩa bên kia, thì tội này sẽ nặng hơn trên cán cân đức công minh của Cha, vì những lẽ mà Cha đã trình bày cho con.

Cha trình bày cho con những điều này, để con buồn rầu hơn vì tội họ xúc phạm đến Cha như vậy, và vì sự hư mất của các kẻ bất trung này; và để nhờ sự đau đớn và cay đắng của linh hồn con và của các đầy tớ khác của Cha, cũng như nhờ lòng nhân từ và thương xót của Cha, mà đánh tan đi những tối tăm đang đè nặng trên những chi thể thối nát kia, chúng đã bị cắt rời khỏi nhiệm thể của Hội Thánh.

Cha gần như không còn gặp được ai than khóc, vì những bách hại người ta phạm đến Máu châu báu và vinh hiển này. Nhưng Cha lại gặp không biết bao nhiêu kẻ luôn tấn công Cha bằng những mũi tên của tình yêu hỗn loạn của chúng. Chúng thật mù quáng! Chúng coi là vinh dự những gì là sỉ nhục, còn những gì là sỉ nhục thì chúng lại lấy làm vinh dự, Cha muốn nói việc chúng khúm núm trước mặt thủ lãnh của chúng. Đó là những nết xấu khiến chúng rat ay bách hại Máu Thánh Con Cha.

Về những kẻ bách hại Giáo Hội và các thừa tác viên của Chúa, bằng nhiều cách khác nhau.

  1. Cha đã nói nhiều kẻ đánh đập Cha, đó là sự thật. Ít là trong ý hướng của chúng, theo như có thể, chúng muốn đánh đập Cha. Sự thật, Cha không hề bị thương tích vì chúng đánh đập. Cha như một tảng đá cứng, khi một hòn đá liệng vào, hòn đá dội lại, gây thương tích cho kẻ liệng đá. Ở đây, mọi xúc phạm của chúng cũng vậy. Chúng muốn ném những sỉ nhục như tên bắn vào Cha, nhưng mũi tên không hề đụng tới Tên bắn tẩm thuốc độc là tội lỗi chúng sẽ quay lại cắm vào chúng, và làm chúng chấn thương do mất đi ân sủng của Máu Thánh ở đời này. Vào giờ phút cuối cùng, nếu chúng không trở lại bằng một việc xưng ra tội mình, kèm theo một lòng thống hối ăn năn, chúng sẽ rơi vào nơi bị huỷ diệt muôn đời: chúng sẽ phải lìa xa Cha và kết hợp với ma quỷ, vì chúng đã liên minh với nó.

Một khi mất ân sủng, linh hồn sẽ bị tội lỗi trói buộc, bằng thứ xiềng xích là chê bỏ nhân đức và sống theo nết xấu. Chính ý chí tự do của chúng đã đưa xiềng xích này cho ma quỷ, để ma quỷ trói chúng lại. Chúng không bị trói buộc như thế, nếu chúng đã không muốn. Sự trói buộc này liên kết các kẻ bách hại Máu Thánh lại với nhau, làm chúng trở thành chân tay của ma quỷ, và chúng làm công việc của ma quỷ.

Ma quỷ tìm mọi cách làm hư hỏng các tạo vật của Cha, khiến chúng quay lưng xa lìa ân sủng, rơi vào trọng tội, để rồi phải chia sẻ số phận vô phúc với nó. Những kẻ làm chân tay cho ma quỷ cũng ra sức làm công việc đó, chúng ra sức dụ dỗ con cái của Hiền Thê Chúa Kitô Con Cha, bằng cách cắt đứt mối dây liên hệ của đức ái đang liên kết họ; và khi đã làm họ mất đi hoa trái của Máu Thánh, chúng trói họ bằng những xích xiềng như chúng, đó là xiềng xích của kiêu căng, xiềng xích của tự cao, xiềng xích của sợ hãi nô lệ. Chỉ vì sợ mất chức quyền đời này, mà chúng để mất ân sủng và chấp nhận sự sỉ nhục tồi tệ nhất, đó là mất chức vụ của Máu Thánh. Xích xiềng này có ấn tích của sự tối tăm, bởi vì chúng đã mất ý thức về nỗi bất hạnh lớn lao và sự khốn khổ mà chúng đã rơi xuống, và làm cho nhiều kẻ khác cũng rơi vào. Chúng không còn ý thức nữa, thì làm sao chúng có thể sửa mình? Trong sự mù quáng của chúng, chúng có thể đi tới chỗ vênh vang vì linh hồn và thân xác chúng phải huỷ hoại.

Con rất yêu dấu của Cha, con hãy khóc lóc đau đớn khi thấy sự mù quáng đó và sự khốn cùng như vậy! Con hãy nhớ rằng: những kẻ khốn nạn này cũng đã được thanh tẩy trong Máu Thánh, như con đã được nuôi dưỡng và lớn lên bằng thần lực của Máu Thánh trong lòng Hội Thánh, thế mà hôm nay chúng ra như vậy đó! Vịn cớ sửa lỗi các thừa tác viên của Cha, những người mà Cha đã cấm không ai được đụng tới, chúng đã nổi loạn, đã rời bỏ lòng mẹ của chúng. Con và các tôi tớ của Cha sẽ rùng mình khi nghe nhắc lại cái liên minh khốn nạn này! Lưỡi của con không thể nào kể hết được sự kinh tởm của liên minh này đối với Cha! Điều xấu xa nhất, đó là dưới chiêu bài sửa sai cho những thừa tác viên của Cha, chúng đã che giấu những tội ác của chúng! Chúng quên rằng: không có gì che đậy được cái nhìn thấu suốt của Cha. Chúng có thể che giấu mắt loài người, chứ không che được mắt Cha: không gì che giấu được Cha, mọi sự đều lột trần trước mắt Cha. Làm sao các con có thể giấu được gì với Cha: Cha đã biết các con và biết rõ các con trước khi các con được tạo dựng.

Đó là một trong những lý do khiến những kẻ thế gian khốn nạn kia không hối cải. Không có ánh sáng đức tin, chúng không tin Cha nhìn thấy chúng. Nếu thật sự chúng tin Cha nhìn thấy các tội ác của chúng, mỗi tội đều bị phạt, và mỗi việc thiện đều được thưởng, chúng đã không phạm nhiều tội đến thế, và chúng sẽ hối hận về những tội đã phạm và khiêm nhường xin Cha thương xót. Và vì công ơn Máu Con Cha, Cha sẽ tha thứ cho chúng. Nhưng chúng cố chấp, chúng buộc lòng nhân hậu của Cha phải loại bỏ chúng. Chúng đã bỏ mất ánh sáng, trở nên mù quáng, trở thành những kẻ bách hại các thừa tác viên của Cha. Tội lỗi của họ không thể biện hộ được cho những cuộc bách hại của chúng.

Cám ơn sự hỗ trợ, động viên để duy trì và phát triển website. Mọi đóng góp xin gửi về:
Người nhận: Hoàng Nhật Minh
Số tài khoản: 103873878411
Ngân hàng: VietinBank

Bài Trước Đó Bài Tiếp Theo

Thư Viện Sách NóiTủ Sách Tâm Linh