Đối Thoại Của Thánh Catarina Sienna: Chương 3. Chúa Cha Thương Xót Hội Thánh P3

ĐỐI THOẠI CỦA THÁNH CATARINA SIENNA: CHƯƠNG 3. CHÚA CHA THƯƠNG XÓT HỘI THÁNH P3

Về tội tà dâm nơi những thừa tác viên xấu.

  1. Con rất yêu dấu của Cha, Cha đã nói sơ qua với con về những kẻ, một cách khốn nạn, đang ở trong nhiều dòng tu dưới cái áo của những con chiên hiền lành, nhưng chúng thật sự là những chó sói (Xc Mt 7:15). Nay Cha trở lại vấn đề những giáo sĩ và những thừa tác viên của Hội Thánh, để than khóc với con về tội lỗi của họ. Những tội lỗi xuất phát từ ba nết xấu cột trụ, mà đã có lần Cha than thở với con, đó là tội dâm ô, sự kiêu căng, và tính tham lam, đến bán cả ân sủng của Chúa Thánh Thần.

Như Cha đã nói với con, ba nết xấu này phối hiệp với nhau, và có chung một nguồn gốc là tính tự ái. Bao lâu ba cái cột trụ này còn đứng vững, chưa bị lật đổ bởi sức mạnh của lòng mến yêu nhân đức, thì chúng còn sức cầm giữ linh hồn con người nằm yên trong các nết xấu. Thật vậy, tất cả các nết xấu đều phát sinh từ tính tự ái, mà con đầu lòng của nó là sự kiêu ngạo. Con người kiêu ngạo thì mất hết tình thương của đức ái. Từ sự kiêu ngạo, người ta tiến tới dâm ô và tham lam. Và cứ thế, ba nết xấu này nô lệ cho nhau bằng xiềng xích ma quỷ. Con rất yêu dấu của Cha, con hãy xem chúng làm ô uế thân xác lẫn trí tuệ của họ, bằng sự kiêu căng và tội dâm ô như thế nào, Cha đã nói với con về điều này rồi, nhưng Cha muốn nói thêm để con hiểu rõ hơn về lòng thương xót của Cha, và để con thêm lòng cảm thương những người bất trung đó.

Một vài kẻ trong họ đã trở thành những quỷ dữ, họ bị chi phối bởi mối tình đối với một vài tạo vật, đến độ họ trở thành điên khùng. Không những họ không còn chút kính trọng nào đối với bí tích cực thánh của Cha, không còn tôn trọng tước vị mà lòng nhân hậu Cha đã đưa họ lên. Tức giận vì không đạt được những thèm muốn tội lỗi, họ đã chạy đến những phù phép của ma quỷ. Để thoả mãn những tư tưởng dâm ô, để thực hiện những ước mơ tội lỗi, họ đã dùng đến thứ bùa ngải, dùng cả bí tích thánh đã lập ra làm lương thực cho linh hồn các con, để chế ra phù phép, hầu thoả mãn những ý muốn dâm ô của họ. Những con chiên đáng thương hại mà lẽ ra họ phải nuôi dưỡng, thì xác hồn đã bị chúng hành hạ bằng những hành vi đê hèn đó, và bằng nhiều phương cách khác nữa, mà Cha tha cho con khỏi nghe, để con không quá khổ tâm. Con đã nhìn thấy những con chiên đáng thương đó, chúng như điên dại và mất trí, vì cảm thấy ý chí của mình bị những con quỷ nhập đó cưỡng bức, đè ép làm những điều kinh tởm mình không muốn. Sự cưỡng lại đã khiến thân thể chúng phải chịu xâu xé ghê sợ.

Đâu là nguyên do những khốn khổ này? Đó là đời sống dâm ô khốn nạn của những kẻ bất trung. Còn nhiều tai hoạ khác nữa Cha có thể nói với con, nhưng nhắc lại làm gì? Con đã biết nguyên nhân rồi, đó là đời sống dâm ô và tội lỗi. Con rất yêu dấu của Cha, xác thịt con người đã được Cha nâng cao trên các phẩm thiên thần, khi bản tính loài người được kết hợp với bản tính thần linh của Cha, nay thân xác đó bị những người vô phúc bắt làm tôi mọi cho những điều bất chính như thế đó! Ôi, những con người đáng kinh tởm và khốn nạn, họ không phải là người nữa mà là thú vật. Xác thịt này, Cha đã thánh hiến bằng dấu thánh, nay các ngươi trao cho đĩ điếm và còn xấu xa hơn thế nữa. Xác thịt này của các ngươi cũng như của cả loài người, mà Cha đã dùng cái chết đau đớn và nhục nhã của Con Cha, để chữa cho lành khỏi vết thương tội Ađam.

Ôi, những kẻ bất trung khốn nạn! Con Cha đã ban vinh dự cho các ngươi, còn các ngươi thì mang lại sỉ nhục cho Ngài! Ngài đã chữa lành các thương tích của các ngươi bằng Máu của Ngài; hơn thế nữa, Ngài đã đặt các ngươi làm thừa tác viên của Máu Thánh Ngài, còn các ngươi lại sỉ nhục Ngài qua những hành vi dâm ô đáng xấu hổ. Đấng Chăn Chiên nhân lành đã tắm rửa các chiên của Ngài trong Máu của mình (Xc Kh 1:5), còn các ngươi lại làm nhơ nhuốc những con chiên trong sạch! Các ngươi đã làm hết cách để đẩy chúng vào chỗ dâm ô! Các ngươi lẽ ra phải là tấm gương của sự khiết tịnh, nhưng lại là mẫu mực của sự truỵ lạc! Các ngươi đã dùng tất cả các phần thân thể các ngươi để phạm tội, và mọi hành vi của các ngươi đều đi ngược với những điều mà Đấng Chân Lý đã làm. Cha đã để cho con mắt Con Cha phải bịt lại, hầu để mắt các ngươi có ánh sáng, nhưng cặp mắt dâm dật lẳng lơ của các ngươi đã phóng ra những mũi tên tẩm thuốc độc, giết hại linh hồn các ngươi, giết cả linh hồn lẫn trái tim của những người, mà mắt các ngươi cắm nhìn vào một cách thèm thuồng tội lỗi.

Cha phải đau khổ để Con Cha uống dấm chua mật đắng, còn các ngươi ham ăn như thú vật no say những đồ ăn mỹ vị. Các ngươi lấy cái bụng làm Chúa để thờ, cái phải hổ thẹn làm vinh dự (Xc Pl 3:19). Lưỡi các ngươi đầy những lời nhẹ dạ và thô tục. Đáng lý các ngươi phải dùng cái lưỡi để sửa dạy tha nhân, loan báo lời của Cha, đọc Giờ kinh phụng vụ. Nhưng Cha chỉ thấy một sự hư đốn: chửi thề, nói dối, nói gian, ấy là chưa kể đến tội xúc phạm danh thánh Cha như những kẻ ngoại đạo.

TRA CỨU THẦN SỐ HỌC Đóng Xem Đường Đời, Sự Nghiệp, Tình Duyên, Vận Mệnh, Các Năm Đỉnh Cao Cuộc Đời...
(*) Họ và tên của bạn:
(*) Ngày tháng năm sinh:
 

Khoa học khám phá bản thân qua các con số - Pythagoras (Pitago)

Cha đã chịu để cho người ta trói tay Con Cha, hầu giải thoát các ngươi và loài người khỏi xiềng xích ma quỷ. Hai tay của các ngươi đã được xức dầu, đã được thánh hiến để phân phát bí tích rất thánh, vậy mà các ngươi đã dùng hai bàn tay để làm những điều ô uế. Tất cả mọi công việc của tay các ngươi đều hư hỏng và làm tôi ma quỷ. Ôi, những kẻ khốn nạn! Cha đã nâng các ngươi lên những địa vị cao trọng như thế, để các ngươi phụng sự Cha và phục vụ các tạo vật có lý trí, như vậy sao?

Cha đã muốn hai chân của Con Cha bị đâm lủng, để các ngươi có thể dùng thân thể Ngài làm chiếc thang mà leo lên, Cha muốn cạnh sườn Ngài mở ra, để các ngươi nhìn thấy bí nhiệm của Trái tim Ngài. Cha đã biến Ngài thành nơi trú ẩn luôn mở rộng, để các ngươi có thể hiểu biết và hưởng nếm tình thương khôn tả mà Cha đã dành cho loài người, khi bản tính thần linh của Cha kết hợp với bản tính của loài người.

Trái tim Ngài sẽ dạy cho các ngươi biết rằng: Máu Ngài, mà các ngươi là những thừa tác viên, đã đổ ra như để tẩy rửa tội lỗi các ngươi, còn các ngươi thì làm cho trái tim các ngươi thành đền thờ của ma quỷ! Tâm tình của các ngươi, được tượng trưng bằng hai bàn chân, đã chỉ mang lại cho Cha những điều xấu hổ và nhục nhã. Tâm tình của các ngươi sẽ dẫn đưa linh hồn các ngươi vào hang ổ của ma quỷ.

Như vậy, các ngươi dùng hoàn toàn thân xác của mình để hành hạ thân thể Con Cha. Các hành vi các ngươi luôn phản lại các hành vi của Con Cha. Các ngươi luôn làm trái với những gì mà các ngươi và mọi tạo vật đáng lý phải làm. Tất cả mọi cơ quan nơi thân xác các ngươi đã trở thành những dụng cụ của tội lỗi, bởi vì ba tài năng của linh hồn các ngươi lẽ ra phải hiệp nhất nhân danh Cha, thì lại liên kết với nhau nhân danh ma quỷ.

Trí nhớ của các ngươi đáng lẽ phải chất chứa những tưởng niệm hồng ân Cha ban cho các ngươi, vậy mà nó lại đầy những hình ảnh dâm ô và trăm ngàn thứ đê hèn khác. Con mắt trí tuệ các ngươi lẽ ra phải nhìn lên Chúa Kitô chịu đóng đinh trong ánh sáng đức tin, vì các ngươi đã được đặt làm những thừa tác viên của Ngài, nhưng do cuộc sống phù phiếm, cặp mắt đó chỉ chú ý đến những thú vui, danh vọng và của cải thế gian. Ý muốn của các ngươi lẽ ra chỉ gắn bó với Cha, và yêu mến Cha, thế nhưng một cách hèn hạ, các ngươi chỉ yêu các vật thụ tạo, và dung dưỡng xác thịt. Thậm chí các ngươi còn yêu quý những súc vật các ngươi nuôi hơn Cha. Chứng cớ là các ngươi giận giữ Cha, khi Cha cất đi một vật gì các ngươi yêu chuộng; và các ngươi bực tức với tha nhân, khi người ta gây thiệt hại thứ gì cho các ngươi. Khi đó, các ngươi ghét người ta, làm khổ người ta, các ngươi bỏ mất đức ái đối với Cha và đối với tha nhân.

Ôi, những kẻ khốn nạn! Các ngươi đã được trao cho việc phục dịch lửa thánh là đức ái thần linh của Cha, vậy mà các ngươi đã làm tắt ngọn lửa đó vì buông theo thú vui của một tâm tình thác loạn! Các ngươi không thể chịu đựng được một sự thiệt thòi nhỏ mọn nào vì đức ái, do tha nhân gây nên cho các ngươi!

Con rất yêu dấu của Cha, đó là một trong ba cột trụ của tội lỗi mà Cha đã nói với con.

Các thừa tác viên xấu bị thống trị bởi lòng đam mê tiền của. Họ cho vay ăn lãi, nhất là mua bán các chức tước và bổng lộc. Những tai hại do nết xấu này gây nên cho Hội Thánh.

  1. Bây giờ, Cha nói về nết xấu trụ cột thứ hai, đó là lòng ham mê tiền của. Những gì Con Cha ban tặng, thì đã ban cách rất quảng đại trên Thánh giá, còn Ngài chỉ được đáp lại một cách nhỏ giọt. Con hãy nhìn xem Ngài bị treo trên Thập tự, Thân Thể bị đâm nát, Máu chảy lai láng xuống cây gỗ từ khắp thân thể Ngài. Ngài không chuộc tội loài người bằng giá vàng bạc, nhưng bằng Máu và bằng Tình thương của Ngài. Ngài đã không cứu chuộc chỉ một nửa nhân loại, nhưng là tất cả thế giới, tất cả mọi người trong quá khứ, hiện tại và tương lai. Máu này đã được ban cho các con, đồng thời Lửa cũng đã được phân phát cho các con: chính bởi Lửa tình yêu mà Máu đã đổ ra vì các con. Máu cùng với Lửa đã được ban cho các con cùng với bản tính thần linh của Cha, luôn hiệp nhất chặt chẽ với bản tính phàm nhân. Chính trong Máu Thánh này, hiệp nhất với Thần tính của Cha, và do lòng quảng đại của tình thương của Cha, mà các ngươi được Cha đặt làm thừa tác viên, hỡi những kẻ bất trung! Thế nhưng, sự đam mê đã làm các ngươi trở thành hà tiện, trong việc phân phát những gì Con Cha đã tạo được trên Thánh Giá.

Các ngươi được Ngài đặt làm thừa tác viên do một hồng ân của Ngài, vậy mà bây giờ các ngươi bán ân sủng của Chúa Thánh Thần cho các linh hồn, mà Chúa Kitô đã cứu chuộc bằng tình thương cao quý dường ấy (Xc Cv 8:18-20). Những gì các ngươi đã nhận được cách nhưng không, nay các ngươi lại muốn người ta phải trả bằng tiền bạc, khi người ta đến xin các ngươi (Xc Mt 10:8). Tính ham mê của cải làm cho các ngươi không còn muốn nuôi mình bằng ơn cứu độ các linh hồn và vinh quang của Cha nữa, nhưng chỉ muốn làm nô lệ cho tiền bạc. Đức ái của các ngươi đã trở nên rất hẹp hòi trong việc phân phát những gì các ngươi đã lãnh nhận cách rộng rãi, cho nên rõ ràng Cha không còn ở trong các ngươi bằng ân sủng, và tha nhân không ở trong các ngươi bằng tình thương. Những của cải trần gian Ngài tặng ban cho các ngươi vì Máu Thánh này, các ngươi nhận được cách quảng đại; nhưng, hỡi những kẻ keo kiệt đáng trách, các ngươi chỉ dùng để phục vụ mình, chứ không cho ai khác. Hỡi những tên trộm cắp đáng án phạt đời đời, các ngươi ăn cướp tiền bạc của người nghèo và của Hội Thánh, để tiêu pha vào việc riêng cho mình. Các ngươi phung phí tiền bạc đó với những phụ nữ và những người mất nết, các ngươi làm giàu cho bà con họ hàng. Với tiền bạc của Hội Thánh, các ngươi dùng vào việc tìm kiếm những lạc thú cho mình và nuôi dưỡng những đứa con đẻ hoang.

Ôi, những kẻ bất trung! Còn đâu những của cải của nhân đức và thánh thiện, mà các ngươi lẽ ra phải có? Còn đâu đức ái nồng nhiệt, mà các người đáng lẽ phải gieo vãi? Còn đâu lòng nhiệt thành đối với triều đại của Cha và ơn cứu độ các linh hồn? Còn đâu nỗi đau đớn khổ tâm mà lẽ ra các ngươi phải cảm nhận, khi chó sói địa ngục cướp đi những con chiên của các ngươi.

Không còn gì hết! Trong trái tim hẹp hòi của các ngươi không còn chỗ cho Cha và cho tha nhân! Các ngươi chỉ biết yêu bản thân mình! Các ngươi chỉ có thứ tình yêu ích kỷ và nhục dục, thứ tình yêu làm thuốc độc cho các ngươi và cho nhiều người khác. Chính các ngươi là những con chó sói địa ngục! Chính tình yêu hỗn loạn của các ngươi cắn xé các chiên của các ngươi! Tính tham lam của các ngươi cũng chỉ thèm muốn cái mồi ngon ấy! Có lạ chi, nếu ma quỷ vô tình cướp lấy các linh hồn, trong khi các ngươi là những chó sói hữu hình xô chúng xuống hoả ngục. Tài sản của Giáo Hội được các ngươi dùng mặc cho đẹp, ăn cho béo, cùng với những tên quỷ khác bạn bè của các ngươi, cũng như được dùng vào việc chăm sóc những con ngựa khôn của các ngươi, những con vật này các ngươi chăn nuôi chỉ để làm cảnh cho vui, chứ không vì một nhu cầu nào hết. Lẽ ra các ngươi giới hạn vào những gì là cần thiết. Những người đời tìm kiếm những thú vui này còn chấp nhận được, nhưng các ngươi thì phải tìm kiếm thú vui trong việc trợ cấp cho người nghèo, thăm viếng bệnh nhân, đáp ứng những nhu cầu vật chất và tinh thần cho đoàn chiên. Cha đã đặt các ngươi làm thừa tác viên, đã ban cho cácngươi chức vị cao trọng là để lo ơn cứu độ các linh hồn, và chỉ lo một việc ấy mà thôi. Nhưng từ khi các ngươi trở nên giống như thú vật, các ngươi ưa thích sống giữa súc vật. Các ngươi mù quáng quá đỗi! Nếu các ngươi nhìn thấy những hình khổ đang chờ các ngươi, nếu các ngươi chịu thay đổi lối sống, các ngươi sẽ không hành động như hiện nay: các ngươi sẽ đau đớn về quãng đời quá khứ, và ngay từ bây giờ các ngươi bắt đầu sống tốt lành hơn.

Con rất yêu dấu của Cha, con thấy chưa? Cha có lý để phàn nàn về những kẻ bất trung này. Cha đã vô cùng quảng đại đối với họ, vậy mà họ vô ơn bạc nghĩa với Cha đến chừng nào!

Cha phải nói gì hơn nữa? Như Cha đã nói với con, họ còn là những kẻ cho vay ăn lãi. Họ không treo bảng như những kẻ cho vay lãi công khai, nhưng họ không thiếu gì phương cách tinh vi để bán thời gian cho tha nhân chỉ vì tham lam vô độ, đó là cách làm ăn buôn bán mà Cha đã nghiêm cấm. Nếu người ta biếu họ một món quà dù là rất bé mọn, và họ nhận lấy như một việc làm ơn cho vay tiền, thì đấy cũng kể là một cách cho ăn lãi rồi. Tất cả những gì họ nhận để trả nợ thời gian cho vay, đều là cho vay ăn lãi.

Cha đã đặt họ lên để họ cấm người đời không được cho vay lãi, thế mà chính họ lại làm việc này. Chưa hết, nếu có ai đến xin họ một lời khuyên về vấn đề này, thì họ chỉ có những lời khuyên mơ hồ như bị che phủ bởi lòng tham ở trong linh hồn họ, vì họ cũng có nết xấu này, vì họ cũng có nết xấu này nên đã mất

ánh sáng của lý trí ở điểm ấy. Do đấy, mà sinh ra vô vàn điều xấu bởi tính hẹp hòi, tham lam và hà tiện của họ. Cho nên phải áp dụng cho họ lời, mà Ngôi Lời đã nói khi thấy kẻ buôn người bán trong Đền thờ: “Nhà của Cha ta là nhà cầu nguyện, mà các ngươi làm thành hang trộm cướp” (Mt 21:13). Ngài là rầy chúng và chắp những dây thừng lại làm cái roi, để xua đuổi chúng ra khỏi đền thờ.

Con dịu hiền của Cha, con thấy đó, Giáo Hội của Cha là nơi cầu nguyện, nhưng đã bị những linh mục bất hảo biến thành hang trộm cướp! Họ mua, bán, trao đổi ân sủng của Chúa Thánh Thần như một thứ hàng hoá! Chỉ cần mở mắt ra là thấy! Họ ao ước có chức tước và nhiều bổng lộc trong Giáo Hội. Họ khởi sự bằng cách lấy lòng các vị trong giáo triều với những món quà tặng: tiền bạc hay hiện vật. Từ đấy, những vị này không còn xét đến kẻ xin đó tốt hay xấu. Các vị cũng tỏ ra hài lòng và vui vẻ với món quà tặng ấy, cho nên, khốn nạn thay! Các vị tìm cách đưa vào vườn Hội Thánh những loại cây độc hại, báo cáo tốt về họ với Đức Kitô trên trần gian.

Như vậy, từ cả hai phía, họ đã âm mưu với nhau để nói dối và lừa dối vị đại diện Chúa Kitô, mà lẽ ra họ phải đến với Ngài trong sự ngay thẳng và chân thành. Nếu vị đại diện của Con Cha nhận ra sự lừa dối, ngài có bổn phận trừng phạt những kẻ gian tham này: ngài phải cất chức các kẻ ấy, nếu người đó không sửa mình; còn các kẻ mua chức tước bằng của hối lộ, ngài phải trừng phạt nặng hơn, như bỏ tù. Đó là một cách sửa phạt bổ ích cho họ, và làm gương cho nhiều người khác, để tránh thứ tội buôn thần bán thánh này. Nếu vị đại diện Chúa Kitô hành động như thế, ngài sẽ làm tròn bổn phận. Còn nếu như Ngài không làm, ngài cũng sẽ bị trừng phạt, khi ra trước mặt Cha, để trả lẽ về đoàn chiên của mình.

Nhưng con ơi! Ngày nay không còn thấy sự trừng trị như thế nữa đâu, cho nên Hội Thánh của Cha đi tới tình trạng đầy tội ác và điêu tàn. Để nâng ai đó lên một chức tước trong Giáo Hội, người ta không điều tra về đời sống của các tiến chức nữa: người ta không quan tâm những người đó tốt hay xấu. Và nếu người ta có điều tra, thì lại chỉ hỏi những kẻ đồng loã tội lỗi với đương sự, những kẻ sẵn sàng làm chứng tốt cho họ, vì cùng giống như họ. Người ta chỉ chú tâm đến gia thế, sự giàu sang, cách ăn nói lịch lãm lợi khẩu trước công chúng, có khi trước cả hội nghị Giáo triều; tệ hại nữa là người ta khen kẻ đó là người đẹp trai lịch thiệp! Quả là những lời lẽ của ma quỷ! Lẽ ra người ta phải tìm kiếm vẻ đẹp của nhân đức, thì đây người ta chỉ nhìn vào vẻ đẹp của thân xác!

Những người đáng lý phải được ưu tiên lựa chọn, là những người khiêm tốn, những người ẩn dật và vì khiêm nhường nên trốn tránh các chức tước; thế nhưng người ta lại ưa chọn những kẻ kiêu căng, vận động để được tiến cử.

Người ta đề cao sự thông thái. Sự thông thái tự nó đáng quý trọng, và rất tốt, nếu người thông thái sống tốt lành thánh thiện và khiêm nhường chân thành. Còn như nơi một người kiêu căng, xấu nết và phóng đãng, sự thông thái sẽ là một nguy hại. Những kẻ thông thái như thế không hiểu ý nghĩa của Thánh Kinh, mà chỉ hiểu chữ đen mà thôi. Tâm trí họ ở trong tối tăm, vì họ đã mất ánh sáng của lý trí, và mắt trí tuệ họ bị lu mờ, như Cha đã nói với con (Xc số 85). Thánh Kinh chỉ được am hiểu và trình bày đúng nhờ ánh sáng của lý trí, được soi sáng thêm bởi những luồng sáng siêu nhiên. Con thấy đó, sự thông thái tự nó là một ơn quý báu tốt lành, nhưng nó trở nên nguy hiểm, do cách sử dụng không đúng đắn của kẻ có ơn này. Và nếu họ không sửa mình cho ngay thẳng, nhiều người sẽ là nạn nhân của lửa thông thái thiêu huỷ.

Như vậy, phải xét đến đời sống tốt lành và thánh thiện, và coi nó trọng hơn sự thông thái của một kẻ kiêu căng. Nhưng người ta đã làm ngược lại. Những người hiền lành và thánh thiện mà không có sự thông thái uyên thâm, thì bị coi là những người khờ dại: người ta khinh rẻ họ. Cũng thế, những người nghèo không có gì để làm quà tặng, cũng bị người ta loại bỏ.

Bởi vậy, nhà của Cha đáng lý phải là nhà cầu nguyện (Xc Is 56:7; Gr 7:11; Mc 11:7), nơi sáng rực viên ngọc của đức công chính, cùng với ánh sáng của sự thông thái, kết hợp với một đời sống thánh thiện, nơi người ta hít thở hương thơm của chân lý, thì nhà của Cha lại bị biến thành hang ổ gian dối. Lẽ ra các kẻ ở trong đó phải giữ đức khó nghèo tự nguyện, phải nhiệt tâm lo săn sóc các linh hồn, gỡ chúng ra khỏi tay ma quỷ, thế nhưng họ lại chỉ nghĩ đến của cải vật chất; vì quá lo toan của cải thế gian, nên họ không quan tâm gì đến của cải tinh thần. Chơi bời, cười giỡn, làm giàu; đó là tất cả lo nghĩ của đời họ. Những kẻ bất trung ấy không biết đó là cách chắc chắn nhất làm tiêu tan sự nghiệp của mình! Nếu họ giàu có về nhân đức, nếu họ chăm lo của cải thiêng liêng theo bổn phận của họ, thì của cải trần gian sẽ đến với họ cách dồi dào, và những cuộc nổi loạn sẽ không xảy ra trong Hội Thánh, Hiền Thê của Con Cha.

Vậy họ “hãy để kẻ chết chôn kẻ chết” (Lc 9:60); bổn phận của họ là theo và chu toàn giáo lý của Đấng Chân Lý, và thực thi Thánh ý Cha nơi bản thân họ, bằng cách hết mình lo sứ vụ mà Cha đã trao cho. Nhưng ngược lại, họ lo chôn cất những của cải vật chất, những vật phù vân chóng qua; như vậy, là họ giành lấy công việc của người đời. Đó là tội xúc phạm đến Cha, và là điều làm hại cho Giáo Hội. Vậy, họ hãy để các việc cho người đời lo! Hãy để kẻ chết chôn kẻ chết! Hãy để việc thế gian cho kẻ thuộc thế gian.

Tại sao Cha nói với con: “Hãy để kẻ chết chôn kẻ chết”? Lời này có hai nghĩa, “kẻ chết” là những người lo toan các sự việc thế gian với một sự yêu chuộng vô độ, với một sự lo nghĩ hết cỡ khiến họ dễ sa vào vòng tội lỗi. “Kẻ chết” cũng có thể hiểu là những người lo lắng của cải thế gian, tức những sự vật thuộc thân xác, mà thân xác tự nó là một vật chết. Thân xác không có sự sống, nó sống được là nhờ linh hồn: nó tham dự vào sự sống của linh hồn, bao lâu linh hồn còn ở trong nó; khi linh hồn ra khỏi thì nó hết sống.

Vậy, các thừa tác viên của Cha, những người được gọi sống như các thiên thần, phải bỏ lại những sự vật chết cho kẻ chết, để chuyên lo dìu dắt các linh hồn là những thực tại sống động không bao giờ chết. Họ hãy săn sóc các linh hồn, hãy ban phát cho chúng các bí tích, các hồng ân và các ân sủng của Chúa Thánh Thần. Họ hãy nuôi dưỡng các linh hồn bằng của ăn thiêng liêng, bằng gương sáng đời sống tốt lành và thánh thiện. Được như thế, nhà của Cha sẽ là nhà cầu nguyện, dồi dào ân sủng và phong phú nhân đức. Nhưng đó không phải là điều họ làm! Cách sống của họ khác hẳn. Cho nên, có thể nói nhà của Cha đã trở thành hang trộm cướp. Họ đã trở thành những con buôn: họ buôn bán, và tính tham lam của họ là luật lệ cho mọi toan tính của họ (Xc Mt. 21:12-17).

Họ đã biến nhà Cha thành một chuồng thú vật, bởi vì họ sống vô luân như những thú vật. Thật vậy, họ biến nhà của Cha thành một chuồng ngựa, nơi họ sống trong bùn nhơ nết xấu. Họ để những đàn bà tư hôn ở trong nhà của Ta, như chồng đặt vợ trong nhà mình. Con thấy chưa, sự hỗn loạn này lớn hơn tất cả mọi tồi tệ Cha đã nói với con. Đấy cũng là kết quả của hai tính xấu hàng đầu là dâm ô và tham lam của cải.

Những thừa tác viên xấu bị thống trị bởi tính kiêu ngạo, khiến họ mất hẳn ý thức về chân lý. Trong sự mù quáng này, họ đi tới chỗ giả đò truyền phép mà thật sự không truyền phép trong Thánh Lễ.

  1. Bây giờ, Cha muốn nói với con về cột trụ thứ ba là tính kiêu ngạo. Cha đặt nó ở chỗ thứ ba, tuy vậy nó vẫn là đầu các nết xấu. Bởi vì, tất cả các nết xấu đều bắt nguồn từ tính kiêu ngạo, cũng như tất cả các nhân đức đều đặt nền và có sự sống nơi đức ái. Tính tự ái sinh ra và nuôi dưỡng sự kiêu ngạo, cũng như nó là căn bản của ba cột trụ và của tất cả mọi tội lỗi người ta phạm. Ai yêu bản thân mình bằng một tình yêu vô trật tự là người không có đức ái, vì nó không yêu mến Cha trên hết. Vì không yêu mến Cha, nó xúc phạm đến Cha, nó không tuân giữ giới răn buộc phải yêu mến Cha trên hết mọi sự, và yêu thương tha nhân như chính mình.

Khi yêu mình bằng một tình yêu theo cảm giác, những kẻ bất trung này không thể yêu mến Cha và phụng sự Cha: họ yêu mến thế gian và phục vụ nó bằng một tình yêu duy cảm, kẻ đó chê ghét Cha, cũng như ai yêu mến Cha thật lòng thì chê ghét sự giả dối thế gian. Vì thế Đấng Chân Lý của Cha đã nói: “Không ai có thể phục vụ hai chúa đối nghịch nhau: vì làm tôi chủ này sẽ mất lòng chủ kia” (Mt 6:24). Vậy, như con đã biết: tính tự ái làm cho linh hồn mất đức ái của Cha, để mặc lấy nết xấu kiêu ngạo. Bởi vì tính tự ái là nguồn gốc sinh ra mọi tội lỗi.

Tất cả mọi thụ tạo có lý trí đã làm Cha buồn lòng vì sự tự ái của chúng, Cha phải than thở vì chúng, nhất là các kẻ đã được Cha đặt làm thừa tác viên của Cha: họ phải sống khiêm nhường. Thật thế, tất cả mọi người phải có đức khiêm nhường, vì đức này nuôi dưỡng đức ái, nhưng đặc biệt các kẻ được chọn để phục vụ Con Chiên khiêm nhường không tì vết, Con Một Cha. Họ và tất cả mọi người đã không hổ thẹn vì đưa mìnhlên, khi thấy Cha hạ mình xuống làm người phàm, để kết hợp Ngôi Lời của Cha với xác thịt phải hư nát! Chúng thấy Ngôi Lời nhiệt tình vâng lời Cha để chịu lấy cái chết nhục nhã trên Thánh giá! (Xc Pl 2:8). Ngài đã gục đầu xuống chào hỏi các con, trán Ngài chịu đội vòng gai, hai tay Ngài dang ra để ôm lấy các con, hai chân Ngài bị đinh thâu qua để ở lại với các con! Vậy mà, những người khốn nạn này đã được đặt làm thừa tác viên của bấy nhiêu sự quảng đại và bấy nhiêu sự hạ mình, lẽ ra các ngươi phải ôm lấy Thánh giá, nhưng các ngươi đã bỏ trốn để đi ôm lấy những tạo vật tội lỗi ô uế! Đáng lẽ các ngươi phải vững vàng, không lay chuyển trong Đấng Chân Lý của Cha, và trao cho Ngài trái tim và trí tuệ các ngươi, nhưng các ngươi cứ vật vờ như chiếc lá bị gió thổi. Gió vận may thổi lên niềm sung sướngvô độ cho các ngươi; còn gió nghịch vận thì làm các ngươi mất tự chủ và dễ cáu kỉnh: cáu giận là cốt lõi của kiêu ngạo, cũng như nhẫn nại là cốt tuỷ của đức ái. Thế nên kẻ kiêu ngạo dễ nổi giận, cái gì cũng làm nó khổ tâm, cái gì cũng làm nó vấp phạm.

Cha gớm ghét tính kiêu ngạo, đến nỗi thoạt nghe biết những thiên thần muốn đưa mình lên, Cha liền xô chúng xuống khỏi trời cao. Kẻ kiêu ngạo không được lên trời, nó phải tống xuống hoả ngục. Bởi vậy, Đấng Chân Lý của Cha đã nói: “Ai đưa mình lên sẽ bị hạ xuống, và ai hạ mình xuống sẽ được nâng lên” (Lc 14:11). Nơi tất cả mọi người, dầu ở bậc nào, tính kiêu ngạo đều bị Cha chúc dữ, nhưng nhất là nơi những thừa tác viên của Cha, như Cha đã nói với con; bởi vì Cha đã đặt họ trong tình trạng khiêm hạ, để phục vụ Con Chiên khiêm nhường. Vậy mà, hãy nhìn xem sự kiêu ngạo của họ! Làm sao vị linh mục bất trung kia không đỏ mặt xấu hổ, khi thấy Cha hạ mình trước mặt các con, đến mức trao nộp Ngôi Lời, Con Một Cha: để vâng lời Cha, Ngôi Lời đã hạ mình cho tới chết, chết nhục nhã trên Thập giá (Xc Pl 2:8). Ngài đã để đầu của Ngài bị xâu xé bởi những gai nhọn, còn kẻ khốn nạn kia lại vênh mặt lên chống lại Cha và thù nghịch tha nhân. Thay vì là một con chiên khiêm nhường, nó đã là một con chiên đực, giơ cao cặp sừng kiêu căng, và húc bất cứ ai lại gần nó.

Ôi, con người vô phúc! Ngươi tưởng có thể thoát khỏi tay ta sao? Chức vụ Ta trao cho ngươi đâu có phải để ngươi gây sự với Ta với những cái sừng kiêu ngạo của ngươi. Ngươi làm khổ ta và làm nhục kẻ khác; khi không có quyền và không có lý do, ngươi quay ra đả kích tha nhân? Phải chăng đó là lòng thương xót ngươi phải có, để cử hành mầu nhiệm Mình và Máu Chúa Kitô, Con của Ta? Ngươi đã trở thành một con thú dữ tợn, và ngươi không còn kính sợ Ta nữa! Ngươi cắn xé tha nhân, ngươi gây chia rẽ khắp nơi. Ngươi chỉ quý trọng và ưu đãi những kẻ phục vụ ngươi, những kẻ tặng quà cáp, những kẻ ngươi yêu thích vì có đời sống giống như ngươi. Lẽ ra ngươi phải sửa bảo chúng cho chúng sửa mình, trái lại ngươi làm gương xấu để chúng bắt chước ngươi, làm như ngươi và làm xấu hơn. Nếu ngươi tốt, đâu ngươi có hành động như thế! Nhưng vì ngươi xấu xa, ngươi không sửa lỗi kẻ khác, ngươi không còn nhạy cảm đối với lỗi lầm tha nhân.

Ngươi khinh rẻ những người khiêm tốn, ngươi trốn tránh những người nghèo khó mà nhân đức; lẽ ra ngươi không được làm vậy. Ngươi trốn tránh họ, vì sự hôi thối nết xấu ngươi không thể nào chịu nổi hương thơm nhân đức. Ngươi khó chịu khi thấy những người nghèo đến trước cửa nhà ngươi, và ngươi tránh không tới thăm họ trong cơn túng bấn, ngươi nhìn thấy họ chết đói mà không động tình thương. Tại sao thế? Tại hai cái sừng kiêu ngạo mọc trên trán ngươi quá lớn! Những cái sừng này không muốn cúi xuống chịu làm một việc khiêm nhường. Và tại sao ngươi từ chối cúi xuống? Tại vì tính tự ái nuôi dưỡng sự kiêu ngạo, và tính tự ái ngự trị trong ngươi. Đó là lý do tại sao ngươi không muốn nhìn đến những người nghèo khó, không muốn phân phát những trợ cấp phần xác và phần hồn cho họ, chỉ vì sự phục vụ này không mang lại lợi lộc gì cho ngươi.

Ôi, sự kiêu ngạo đáng nguyền rủa, vì nó xuất phát từ tính tự ái! Mi đã làm lu mờ trí tuệ của những kẻ khốn nạn kia! Họ tưởng họ yêu bản thân mình là một sự khôn ngoan, họ độc ác với chính mình mà không hay biết. Họ mất đi những gì họ tưởng mình đã làm ra. Họ nghĩ mình sung sướng vì có của cải và danh vọng! Họ mù quáng nên không biết mình nghèo nàn và hèn hạ! Họ không biết mình đã đánh mất sự giàu sang của nhân đức, và đã nhào từ nơi cao ân sủng xuống đống bùn nhơ tội trọng. Họ tưởng nhìn thấy, nhưng thực sự họ đui mù, vì họ không tự biết mình và không nhận biết Cha. Họ không biết sự thật về mình, không biết tước vị cao trọng Cha đã nâng họ lên; họ không hiểu sự mong manh và tính phù du của thế gian: nếu họ biết, họ có còn coi thế gian là Đức Chúa họ thờ nữa chăng?

Cái gì đã làm họ mất đi sự hiểu biết này? Đó là tính kiêu ngạo. Sự kiêu ngạo đã làm họ trở nên giống ma quỷ, thay vì là những người được Cha chọn làm thiên thần ở dưới đất này! Từ trời cao họ đã ngã xuống chốn tối tăm, sự tối tăm này đã trở nên dày đặc, nhân lên với nhiều tội lỗi khác, mà đôi khi họ đi tới một tội vô cùng nặng nề, Cha muốn nói với con sau đây.

Một số linh mục tội lỗi này đã bị ma quỷ làm cho đui mù, đến độ nhiều khi họ giả bộ đọc ngôn thức truyền phép Thánh Thể, mà sự thực họ không đọc, vì sợ sự công thẳng của Cha và để trút hết mọi kiềm hãm và sợ hãi cho cuộc sống tội lỗi. Ban chiều, họ ăn uống no say quá độ, rồi sáng hôm sau bước ra khỏi căn phòng dâm ô, họ phải dâng Thánh Lễ cho dân chúng. Họ khựng lại vì nhớ đến tội mình vừa phạm trong đêm qua, lương tâm họ bảo không nên và không được cử hành trong tình trạng đó. Họ cảm thấy sự công thẳng của Cha, không phải vì chê ghét nết xấu, nhưng vì tự ái, yêu bản thân mình. Ôi, con rất yêu dấu của Cha, con hãy nhìn xem những linh mục này mù quáng đến mức nào! Thay vì thật lòng thống hối ăn năn tội mình và quyết chí sửa mình, họ đã chọn một giải pháp là không truyền phép khi dâng lễ! Họ tối tăm đến chừng nào! Họ không biết tội ác họ sắp phạm còn nặng nề hơn tội đã phạm trong đêm qua. Họ sẽ dẫn dân chúng đến tội thờ ngẫu tượng, khi giương cao cho dân thờ một thứ bánh không thánh hiến, và coi đó như Mình và Máu Chúa Kitô Con Cha, là Thiên Chúa thật và là Người thật, tức bánh đã được truyền phép; còn đây chỉ là tấm bánh thường. Ôi, kinh tởm thay! Con thấy Cha phải nhẫn nhục biết bao để chịu đựng họ! Nếu họ không sửa mình, tất cả các ân sủng của Cha sẽ trở thành án diệt vong.

Khi ấy, dân chúng phải làm gì để tránh sự thờ ngẫu tượng này? Họ phải cầu nguyện, với điều kiện như sau: “Nếu vị linh mục này đã nói và đã làm tất cả những gì ông nói và làm, thì tôi tin thật đó là Đức Kitô Con Thiên Chúa hằng sống (Xc Mt 16:16), đã được ban cho tôi làm lương thực, do đức ái Thần linh khôn tả, để tưởng niệm cuộc tử nạn rất thánh của Chúa Kitô và hồng ân lớn lao của Máu Thánh đã đổ ra chỉ vì tình thương, và để rửa sạch muôn vàn tội của tôi và của thế giới” (Xc Mt 26:27-28; Lc 22:19-20). Với lời cầu như thế, dân chúng sẽ không bị lừa dối bởi tội tầy đình của vị mục tử bội phản kia, sẽ không mắc cái tội thờ lạy một tạo vật. Thực tế, tội lỗi ấy chỉ là của thừa tác viên bất chính ấy mà thôi; tuy nhiên, giáo dân không vì thế mà không bị dẫn tới một hành vi bị cấm.

Con rất dịu dàng của Cha, ai đã ngăn cản trái đất không rẽ ra nuốt sống những con người bội phản này? Ai đã cầm giữ quyền phép của Cha không phạt chúng cứng đờ ra như những “cột muối” trước mắt thiên hạ (Xc St 19:26), cho chúng xấu hổ? Chỉ vì lòng thương xót của Cha mà thôi. Cha đã cầm mình lại, lòng thương xót của Cha đã can ngăn đức công minh của Cha. Cha chỉ muốn lấy lòng thương xót để thuyết phục họ. Nhưng họ cứng lòng như ma quỷ, họ không nhìn thấy lòng thương xót của Cha. Họ coi tất cả những gì Cha ban cho họ đều như Cha mắc nợ họ và phải trả cho họ. Tội kiêu ngạo đã làm họ mù quáng tới mức đó; họ không biết họ không có một quyền lợi nào, mọi sự đều do ân huệ Cha ban.

Về nhiều tội lỗi khác linh mục xấu phạm vì kiêu ngạo và tự ái.

  1. Tất cả những gì Cha đã nói với con, là để con khóc lóc thảm thiết hơn về sự mù quáng của những linh mục tội lỗi đó, như Cha đã tỏ cho con thấy tình trạng đáng phải tiêu diệt của họ. Và cũng để con hiểu biết rõ hơn về lòng thương xót của Cha, hầu tin tưởng nhiều hơn vào tình yêu của Cha, cầu nguyện cách vững tin hơn cho các thừa tác viên phản bội ấy, và cho toàn thể thế giới. Con càng dâng lên Cha những ước nguyện đau thương và lời cầu nguyện thiết tha cho họ, con càng tỏ rõ lòng mến yêu Con cũng như các tôi tớ khác của Cha, các con không thể làm ích gì cho bản thân Cha, nhưng các con phục vụ Cha bằng cách làm ơn ích cho những con người bất trung đó, các con có thể làm ơn ích cho họ.

Cha sẽ để các con gây sức ép Cha qua những ước ao thánh thiện, những nước mắt và những lời cầu nguyện. Và Cha sẽ động lòng thương xót Hiền Thê của Con Cha, bằng một cuộc cải cách Hội Thánh Cha, qua những mục tử tốt lành và thánh thiện. Sự hiện diện của các mục tử tốt lành sẽ tự động dẫn tới sự cải thiện của nhiều người. Chính những mục tử xấu là nguyên nhân của hầu hết mọi tội lỗi của giáo dân sa phạm. Nếu các mục tử sửa mình, nếu người dân thấy sáng rực nơi họ viên ngọc của đức công chính, bằng đời sống tốt lành và thánh thiện, cộng đồng giáo dân đã không như hiện nay. Con có biết hậu quả của mọi xáo trộn bất an này không? Đó là vì người này theo vết chân của người kia. Tại sao bề dưới không vâng phục? Bởi vì bề trên khi còn là bề dưới, đã không vâng phục bề trên của mình. Nay họ phải đón nhận những gì họ đã làm: xưa kia họ là một bề dưới xấu, thì nay họ là một bề trên tồi tệ.

Căn nguyên của tất cả những tội lỗi này và nhiều tội lỗi khác đều bởi kiêu ngạo, mà kiêu ngạo là do tự ái. Họ dốt nát và kiêu căng khi còn là bề dưới, nay càng dốt nát và kiêu căng hơn khi làm bề trên, làm chủ chăn có chức tước. Sự ngu dốt của họ lớn lao, và sự mù quáng của họ sâu đậm, đến nỗi họ phong chức linh mục cho một kẻ dốt nát, không biết đọc cho đúng, không biết gì về chức năng linh mục, thiếu khả năng hiểu biết, đến nỗi không hiểu cả ngôn thức của các bí tích. Một linh mục như thế được truyền chức thánh trong những điều kiện như vậy, sẽ có nguy cơ phạm thứ tội mà nhiều kẻ khác phạm vì gian dối, nghĩa là giả đò truyền phép Thánh Thể mà thực sự không truyền phép.

Các chủ chăn buộc phải chọn những người trưởng thành, có nhân đức vững vàng, có học thức, hiểu rõ những ngôn thức cùng những nghi lễ của tác vụ thánh. Thế mà, các chủ chăn này làm ngược lại, họ không quan tâm đến học thức và tuổi tác, họ chỉ căn cứ vào mối thịnh tình hay tình cảm. Ngày nay, xem ra họ không truyền chức cho những người đứng tuổi, nhưng họ chọn bọn trẻ. Bất chấp là những người có đời sống tốt lành và thánh thiện, có hiểu biết về bản chất của chức thánh sẽ trao cho, có hiểu biết về mầu nhiệm cao cả sẽ cử hành hay không. Các chủ chăn ấy chỉ lo làm sao cho đông số linh mục, chứ không cần đến phẩm chất nhân đức (Xc Is 9:3). Ôi, những kẻ mù tối, nên cũng chỉ biết thu gom những tên đui mù! (Xc Mt 15:14). Họ không biết Cha sẽ đòi họ phải trả lẽ về những hành vi này trong giờ chết sao? Sau khi đã phong chức cho những linh mục bất xứng như thế, chủ chăn vẫn trao cho họ việc dìu dắt các linh hồn, trong khi biết họ không có đủ khả năng để tự dẫn dắt chính mình.

Các kẻ không biết được điều xấu trong đời mình, làm sao lại có thể nhận ra điều xấu nơi kẻ khác để sửa chữa? Họ không có thể và không muốn làm điều đó, để khỏi phải chuốc lấy cái án cho mình. Còn những con chiên không có mục tử để trông coi dẫn dắt, sẽ dễ bị lầm lạc, nhiều khi còn bị chó sói cắn xé (Xc Gr 23:1; Ez 34:5). Những mục tử xấu không nghĩ đến việc cần có một con chó để sủa, khi chó sói tới. Họ có con chó giống như họ, tức chó câm không biết sủa (Xc Is 56:10). Những mục tử không nhiệt tình lo cho các linh hồn, thì cũng không có con chó của lương tâm bên cạnh. Họ không có cây gậy của sự công chính, cũng không có cái roi để sửa phạt, con chó của lương tâm họ thì câm: nó không còn sủa nữa để cảnh báo trong thâm tâm họ, hoặc để kêu gọi các con chiên lạc quay trở về đàng công chính, khi chúng xa lìa các giới răn của Cha. Những mục tử ấy không ra sức đưa các chiên lạc về con đường của Đấng Chân Lý và Công Chính, hầu tránh nanh vuốt của chó sói hoả ngục. Nếu con chó cho nghe tiếng sủa của nó, nếu cái roi của sự công chính quất trên lưng lầm lạc, các chiên sẽ quay trở về chuồng. Nhưng mục tử không có cây gậy, cũng không có con chó, các chiên có lạc mất, mục tử cũng chẳng lo chi.

Con chó lương tâm đuối sức không sủa nữa, vì nó không được bồi dưỡng. Lẽ ra phải cho lương tâm ăn, thức ăn của nó là Máu Chiên Con, Con của Cha. Khi trí nhớ là bình chứa của linh hồn đầy Máu Chiên Con, thì lương tâm có sinh lực. Sự tưởng nhớ Máu Thánh sẽ làm linh hồn bốc cháy trong sự chê ghét nết xấu và yêu mến nhân đức. Sự chê ghét và lòng yêu mến này sẽ thanh tẩy linh hồn khỏi sự dơ bẩn của tội trọng, và tăng sức mạnh cho lương tâm là kẻ phải tỉnh thức canh giữ. Vừa phát hiện một kẻ thù của linh hồn, tức tội trọng đe doạ xâm nhập, kể cả trước khi bị đe doạ, nghĩa và vừa chợt nghĩ đến tội lỗi, thì lập tức lương tâm được báo động, sự cảnh báo này giống như tiếng chó sủa, kêu gọi lý trí và ngăn cản tương tâm đừng làm điều bất chính. Bởi vậy, ai có lương tâm ngay thẳng là người công chính. Các kẻ tội lỗi kia không xứng đáng được gọi là những thừa tác viên của Cha, thậm chí không đáng được gọi là những tạo vật có lý trí, bởi vì các nết xấu của họ đã biến họ thành súc vật. Họ không có con chó, vì lương tâm họ đã ra yếu đuối, kể như không còn nữa. Họ cũng không có cây gậy của sự công chính. Các nết xấu của họ đã làm họ sợ hãi, đến nỗi họ sợ hãi ngay cái bóng của mình. Mà đây không phải là sự kính sợ thánh thiện, nhưng là sự sợ hãi nô lệ. Lẽ ra họ phải sẵn sàng liều chết để cứu các linh hồn khỏi tay ma quỷ, nhưng chính họ lại trao các linh hồn ấy cho ma quỷ, vì không dạy bảo chúng bằng một cuộc sống tốt lành và thánh thiện, không muốn chịu một lời xúc phạm vì ơn cứu độ các linh hồn.

Có thể xảy ra trường hợp một linh mục bất trung nói trên, phải đối diện với một linh hồn mắc nhiều tội nặng và vướng nhiều nợ nần theo đức công bình, nhưng vì tình yêu vô lối không muốn gia đình hay người thân mình phải mất đi nhiều tiền của, nên đã không sẵn lòng đền trả. Sự việc này nhiều người biết rõ, cả người mục tử của linh hồn không thể không hay biết. Hơn nữa, người ta đã đến trình bày cho vị mục tử, để ông đến thăm viếng, an ủi và giúp đỡ người bất hạnh đó. Vị mục tử đến với ý định nói và làm những gì phải nói và làm. Nhưng một lời chửi thề của người đối mặt, hay chỉ một cái nhìn ngăm đe, đã làm ông mất nhuệ khí, không làm, không nói được gì cả. Có khi vì một món quà tặng, hay vì một niềm sợ hãi nào đó, người mục tử bất trung đã để mặc linh hồn này rơi vào tay ma quỷ. Ông cứ ban bí tích, trao Mình Thánh Chúa Kitô cho người ông biết còn vướng mắc tội trọng. Ông đã chiều lòng người ta, vì ông đã bị chi phối bởi sự sợ hãi vô lối và ra yếu lòng vì quà tặng. Ông ban bí tích cho kẻ tội lỗi công khai sắp chết đó. Và ông cử hành các nghi lễ an táng long trọng của Giáo Hội cho người đó, mà lẽ ra ông phải loại nó ra khỏi Hội Thánh như một thú vật, một chi thể đã lìa khỏi thân thể.

Tại sao lại có cách cư xử như thế? Đó là, tính tự ái và sự kiêu căng quá lớn. Nếu linh mục đó yêu mến Cha trên hết mọi sự, nếu ông thương yêu linh hồn của kẻ khốn khổ kia, ông đã tỏ ra khiêm nhường, không sợ hãi và đã tìm cách cứu vớt linh hồn đó.

Con thấy biết bao điều xấu xa đã do ba nết xấu, mà Cha gọi là ba mối đầu hay ba trụ cột của mọi tội lỗi: đó là tính kiêu ngạo, lòng tham lam của cải, và sự thiếu trong sạch trong tâm hồn lẫn thể xác. Tai con không có sức để nghe hết những điều bất chính, mà những chi thể đó của ma quỷ đã phạm.

Chắc con đã thấy sự kiêu ngạo, tội dâm ô và lòng tham lam của họ đã dẫn đưa họ vào vòng tội lỗi như thế nào. Có khi một vài linh hồn quá đơn sơ, tình ngay, nhưng tâm trí bị rối loạn tưởng mình bị quỷ ám. Chúng tìm đến với vị linh mục bất trung kia, hy vọng ông có thể giải cứu mình; thế nhưng, một điều phải nhịn cười là quỷ dữ này xua đuổi quỷ dữ kia (Xc Mt 12:24-27). Sự tham lam của ông bắt đầu bằng việc nhận lấy quà tặng, rồi bằng những lời lả lơi thô tục, kẻ bất trung này nói với người thiếu nữ vô phúc rằng: Sự dằn vặt làm chị đau khổ chỉ có thể được giải cứu “bằng cách này” này! Thế là một tội phạm thánh, ông dẫn y thị vào chỗ phạm tội với ông!

Ôi, tên quỷ xấu xa hơn ma quỷ! Ngươi đã trở nên kinh tởm hơn ma quỷ! Thật vậy, nhiều quỷ gớm ghét thứ tội này, còn ngươi thì lăn lộn trong đó như con heo trong đống bùn. Ôi, con vật dơ dáy! Tội phạm thánh có phải là điều ta chờ đợi ở ngươi hay sao? Ta đã đặt ngươi làm thừa tác viên của Máu Thánh, để ngươi xua đuổi ma quỷ ra khỏi các linh hồn, nhưng ngươi lại dẫn ma quỷ nhập vào trong các linh hồn! Ngươi không thấy búa rìu của sự công minh Thiên Chúa đã đặt vào rễ cây của ngươi sao? Ta nói trước cho ngươi biết, mọi điều bất chính của ngươi sẽ bị trừng phạt một cách gia tăng với thời gian và nơi chốn, nếu ngươi không tự trừng phạt mình bằng việc đền tội và sự ăn năn thống hối chân thành, ngươi không được kiêng nể vì ngươi là tư tế đâu! Trái lại, ngươi sẽ bị trừng trị cách nghiêm khắc vì các tội của ngươi, và vì các tội ngươi làm cho kẻ khác sa phạm. Ngươi sẽ bị trừng phạt nặng nề hơn mọi người khác. Khi đó, ngươi sẽ nhớ lại ngươi đã xua đuổi ma quỷ bằng quỷ dâm dục!

Lại nữa, như con đã thấy một phụ nữ vô phước khác, bị trói buộc bởi tội trọng. Thị này đến với một linh mục phản bội khác để xin được tháo gỡ khỏi xiềng xích tội lỗi, nhưng y thị lại bị trói buộc thêm bởi một tội nặng nề hơn trước. Bằng những lời dụ dỗ, người mục tử bất trung đã đưa chị ta tới chỗ phạm tội với mình, làm cho nạn nhân phải mang thêm những xiềng xích nặng nề hơn và đáng xấu hổ hơn nữa. Nếu con còn nhớ, chính mắt con đã nhìn thấy con người bị lừa dối đó! Chắc chắn vị mục tử này không có cho mình một con chó lương tâm. Nhưng ông đã dập tắt tiếng nói của lương tâm mình, và còn làm câm đi tiếng lương tâm của kẻ khác.

Cha đã uỷ thác cho các mục tử nhiệm vụ hát Giờ kinh phụng vụ và đọc Thánh Vịnh ban đêm. Trái lại, họ sử dụng những bùa ngải và những câu phù chú ma quỷ, để ma quỷ giúp họ bằng cách đưa hồn vía về thăm họ ban đêm, những hồn vía mà họ yêu thương cách hèn hạ, và họ tin rằng các hồn vía ấy sẽ đến. Nhưng họ bị ma quỷ lừa dối, bởi vì sự thật không có như họ nghĩ.

Ôi, kẻ khốn nạn! Ta đã chọn ngươi để tỉnh thức cầu nguyện ban đêm, để đến sáng ngươi sẵn sàng cử hành Thánh Lễ! Lẽ ra ngươi phải toả ra hương thơm nhân đức, chứ không phải mùi thối tha của nết xấu! Ta đã nâng ngươi lên bậc thiên thần, để ngay từ đời này, ngươi trò chuyện với các thiên thần bằng việc suy gẫm, hầu ngày cuối đời ngươi được hưởng kiến nhan Ta cùng với các thiên thần, nhưng ngươi đã thích làm ma quỷ, trò chuyện với ma quỷ; ngươi chuẩn bị như thế cho giây phút của giờ chết sao? Cặp sừng của tính kiêu ngạo đã chọc thủng con ngươi đức tin nơi mắt trí tuệ ngươi. Ngươi đã thành đui mù, không biết mình đã sa xuống hố khốn nạn! Ngươi không tin rằng: mọi tội lỗi sẽ bị trừng phạt và mọi hành vi tốt lành sẽ được thưởng sao? Nếu ngươi tin điều đó, chắc chắn ngươi đã hành động cách khác rồi, ngươi đã không tìm kiếm và không muốn giao dịch với ma quỷ, ngay tên của nó cũng đáng ghét, không thể nghe tên nó mà không ghê rợn. Nhưng ngươi đang làm theo ý ma quỷ, ngươi lấy làm hạnh phúc vì làm công việc của nó. Ôi, ngươi mù quáng quá đỗi! Ngươi hãy hỏi xem nó sẽ giành phần thưởng nào cho sự ngươi phục vụ nó. Nó sẽ trả lời: nó sẽ cho ngươi những gì nó có, đó là những cực hình ghê sợ trong lửa mà nó đang chịu thiêu đốt đến muôn đời; đó là nơi, mà từ trời cao tội kiêu ngạo đã đẩy nó xuống.

Ngươi là thiên thần của trái đất; tính kiêu ngạo của ngươi đã đẩy ngươi té nhào từ chỗ cao siêu của chức linh mục, từ đỉnh cao của nhân đức, xuống vực thẳm đầy khốn khổ! Nếu ngươi không từ bỏ tội lỗi, ngươi sẽ lăn xuống đáy hoả ngục. Ngươi đã tự coi mình và coi thế gian là chúa của ngươi. Ngươi đã vui hưởng thế gian này: tính dục ngươi thì no nê mọi thứ vui; hỡi linh mục, người mà Ta đã đặt lên chức cao trọng nhất để ngươi khinh chê sự thế gian và tính dục của ngươi! Vậy giờ đây, ngươi hãy xin thế gian và xin tính dục của ngươi biện hộ cho ngươi, trước mặt Ta là Thẩm Phán tối cao! Chúng sẽ trả lời ngươi chúng không thể giúp được gì cho ngươi. Chúng sẽ chế nhạo ngươi, chúng sẽ nói ngươi đáng cái số phận của ngươi, ngươi đáng phải xấu hổ và bị luận phạt trước mặt Ta và trước mặt thiên hạ. Ngươi đã không nhìn thấy sự bất hạnh của mình, vì như Ta đã nói với ngươi, cái sừng của tính kiêu ngạo đã làm ngươi mù quáng. Nhưng ngươi sẽ nhìn thấy điều đó vào giờ chết: khi ấy ngươi sẽ không có trong mình một thần lực nào để thoát khỏi án phạt. Sự thật, ngươi không tìm được đâu ra nơi trú ẩn, ngoài lòng thương xót của Ta, nếu ngươi trông cậy vào Máu Thánh mà Ta đã đặt ngươi làm thừa tác viên. Ngươi cũng như mọi người sẽ không mất sự nâng đỡ của Ta, miễn là ngươi cậy trông vào Máu Thánh và lòng thương xót của Ta. Tuy nhiên, không ai điên rồ và ngu dại, để cậy dựa cái lúc cuối cùng không chắc chắn đó.

Ngươi hãy nghĩ tới cái giờ sau hết này, ma quỷ, thế gian và tính dục sẽ tố cáo con người sống cuộc đời bất chính. Khi đó, chúng sẽ không lừa dối người ta nữa; chúng sẽ không tìm cách làm cho người ta thấy ngọt ngào những gì thật sự là cay đắng; người ta sẽ không còn bị lừa dối để lấy cái xấu làm tốt, lấy tối tăm làm ánh sáng, như trong đời sống trước kia nữa. Chúng sẽ cho người ta thấy sự thật là thế nào. Con chó của lương tâm vẫn câm cho tới lúc ấy, nay nó bắt đầu sủa lớn, đến nỗi như muốn đẩy linh hồn vào chỗ tuyệt vọng. Đó là nỗi hiểm nguy lớn hơn hết cần phải tránh xa, bằng cách tin tưởng và trông cậy nơi Máu Thánh Chúa Kitô, mặc dầu người ta phạm rất nhiều tội ác và rất nặng nề. Bởi vì lòng thương xót của Cha mà con người nhận được nhờ Máu Thánh này, thì vô cùng lớn lao, lớn hơn tất cả mọi tội lỗi người ta phạm trên thế gian.

Nhưng Cha nhắc lại, đừng ai trì hoãn đến giờ phút cuối cùng như thế, bởi vì điều rất đáng sợ cho con người, là thấy mình không có võ khí nào trong tay trên bãi chiến trường, với bằng ấy kẻ thù.

Về nhiều tội lỗi khác mà những mục tử xấu đã phạm.

  1. Con rất yêu dấu của Cha, đó là những điều mà các mục tử xấu đã lãng quên, như Cha đã nói với con. Nếu họ suy đến những điều đó, họ đã không phạm những tội nặng nền như vậy và nhiều tội khác, nhưng đã đi theo vết chân nhiều vị sống nhân đức, và đã thà chết chẳng thà xúc phạm đến Cha, làm dơ bẩn linh hồn họ và làm hoen ố chức vị Cha đã ban Trái lại, họ đã làm tăng thêm tư cách và vẻ đẹp cho linh hồn mình.

Sự thực, phẩm giá chức linh mục không gia tăng do nhân đức, cũng không giảm hạ bởi lỗi lầm của người mang chức đó, tuy nhiên các nhân đức vẫn là một trang sức cho tước vị ấy, chúng trang điểm cho linh hồn và thêm vẻ đẹp cho cái đẹp, mà linh hồn đã nhận được từ lúc ban đầu, khi Cha sáng tạo nên nó theo hình ảnh Cha. Những người sống như thế đều nhận biết lòng nhân hậu của Cha, vẻ đẹp của linh hồn và phẩm giá của họ, bởi vì tính kiêu ngạo và lòng tự ái không bén mảng tới họ để làm họ ra mù quáng, cũng không lấy mất đi ánh sáng của lý trí. Và nhờ có ánh sáng này, họ yêu mến Cha và tha thiết với ơn cứu độ các linh hồn.

Còn những kẻ bất hảo kia đã đánh mất ánh sáng này, họ đi từ tội ác này đến tội ác khác một cách lặng lẽ, không bị lương tâm cắn rứt, cho tới bờ vực thẳm. Họ đã biến đền thờ của linh hồn họ, của Hội Thánh, thành hang thú vật. Ôi, con rất yêu dấu của Cha, sự ghê tởm đó làm Cha đau đớn chừng nào! Lẽ ra nhà của họ phải là nơi trú ngụ của các tôi tớ Cha và của những người nghèo khó. Lẽ ra hiền thê của họ phải là cuốn Giờ Kinh phụng vụ, và con cái họ phải là những cuốn sách Thánh Kinh, lẽ ra họ phải vui sống bầu bạn với những cuốn sách đó, để mang chân lý đến cho dân và nêu gương một đời sống thánh thiện. Nhưng nhà cửa của họ đã trở thành nơi chứa chấp một sự buông tuồng và đón những người mất nết. Họ không cư xử với cuốn Giờ Kinh phụng vụ như người bạn trăm năm, nhưng như bà mẹ bị phản bội, thay vào đó họ có vợ bé ma quỷ, chung sống cách đầy tội lỗi với nó! Những cuốn sách của họ là đàn con của họ, được họ sinh ra trong sự phản bội và phạm thánh, và họ không thẹn thùng xấu hổ chút nào khi sống giữa đàn con đó cách vui vẻ.

Ngày lễ trọng Chúa phục sinh và các ngày lễ khác, lẽ ra linh mục này phải tôn vinh Thánh danh Cha bằng những nghi lễ phụng vụ, dâng lên Cha hương thơm của lời cầu nguyện khiêm tốn và sốt sắng, thì ông lại trải qua những ngày đó để chơi bời, cười cợtvới đàn bà con gái, đi chơi với người đời trong những cuộc săn bắn thú rừng, bẫy chim, như những vương giả.

Ôi, con người bất trung! Hãy nhìn xem tình trạng của ngươi! Đáng lẽ ngươi phải theo đuổi danh dự và vinh quang của ta! Lẽ ra ngươi phải ở trong vườn Hội Thánh, thế nhưng ngươi lại chạy trong rừng sâu! Chính ngươi đã trở thành con thú, và ngươi đang nuôi dưỡng trong linh hồn ngươi một đàn súc vật là các tội trọng. Bởi vậy, ngươi đã trở thành kẻ bẫy chim, kẻ đi săn thú vật. Mảnh vườn linh hồn ngươi đã trở nên hoang dã điêu tàn, đầy gai góc, bởi vì ngươi thích đi lại trong hoang dã, để săn các loại thú.

Hỡi con người khốn nạn, hãy xấu hổ vì các tội ghê tởm của ngươi. Quay về phía nào, ngươi cũng thấy những điều làm ngươi phải đỏ mặt. Nhưng ngươi không còn biết xấu hổ, vì ngươi đã mất sự kính sợ thánh thiện đối với Ta. Ngươi giống như một con điếm không biết hổ thẹn, vì ngươi khoe khoang có địa vị lớn trong xã hội, có gia đình êm ấm, có nhiều con cái! Nếu không có con cái, ngươi lo cho có để có kẻ kế thừa gia nghiệp ngươi. Như vậy, ngươi chỉ là một tên trộm cướp, vì ngươi không biết mình không được làm như thế. Những người thừa kế của ngươi phải là những người nghèo và cộng đoàn dân Chúa, tức Giáo xứ được uỷ thác cho ngươi coi sóc. Hỡi tên quỷ nhập! Hỡi thần trí không ánh sáng! Ngươi tìm kiếm những gì không được phép tìm kiếm! Ngươi khoe khoang, ngươi hãnh diện vì những thứ lẽ ra ngươi phải xấu hổ trước mặt Ta, vì Ta thấu suốt tâm can ngươi. Người ta khinh chê ngươi, nhưng cặp sừng của tính kiêu ngạo đã không cho ngươi thấy sự thẹn thùng xấu hổ của ngươi nữa.

Con rất yêu dấu của Cha, Cha đã đặt linh mục đó trên cây cầu Đấng Chân Lý của Cha, để y ban phát các bí tích của Hội Thánh cho các con là khách lữ hành. Nhưng y đã đi xuống gầm cầu, đã bước vào dòng sông của những lạc thú và sa đoạ. Đó là nơi y thi hành thừa tác vụ của y, mà không nhìn thấy dòng sông của sự chết sắp bắt lấy y và đem y đi cùng với ma quỷ, là ông thầy mà y đã trung thành phục vụ. Y bị dòng sông lôi đi mà không cưỡng lại được. Nếu y không sửa mình, y sẽ đi vào chốn huỷ diệt muôn đời, với bao trách nhiệm mà lưỡi con không thể kể hết được. Y sẽ phải trừng phạt nặng nề hơn mọi người đời. Nặng nề nhất là những lời tố cáo căm hờn của các kẻ phải hư đi, vì sự phản bội chức năng của y.

Sự khác biệt giữa cái chết của người công chính và cái chết của kẻ tội lỗi.

Trước hết, sẽ nói về cái chết của người công chính.

  1. Cha đã nói với con về sự thế gian, ma quỷ và dục vọng tố cáo những kẻ tội lỗi. Bây giờ, Cha nói dài hơn về sự thật này, tỏ bày chi tiết tình trạng của những kẻ bất trung vào giờ phút cuối cùng đó, để con thêm cảm thương họ. Cha sẽ nói cho con biết sự khác biệt lớn lao giữa những cuộc chiến đấu, mà linh hồn người công chính cũng như linh hồn kẻ tội lỗi phải đương đầu, nhất là sự khác biệt giữa cái chết của người lành và cái chết của kẻ dữ. Con cũng sẽ thấy người công chính chết trong bình an, một sự bình an thánh thiện theo mức độ sự trọn lành của mỗi người.

Trước hết, con nên biết tất cả mọi đau khổ của con người đều có nguyên nhân nơi ý muốn của từng người. Nếu ý muốn của họ hoàn toàn phù hợp với ý của Cha, họ sẽ không có một đau khổ nào hết. Hẳn không phải vì thế mà họ được giải thoát khỏi mọi đau đớn, nhưng khi bằng lòng chấp nhận vì Cha, những đau đớn ấy không còn kể là khổ nữa: họ bằng lòng với những đau khổ ấy, vì biết rằng đó là Thánh ý Cha. Sự chê ghét bản thân mình làm cho các linh hồn này luôn chống lại mọi gian tà, ma quỷ và tính dục mình. Cho nên khi giờ chết đến, họ đón nhận sự chết trong bình an, vì họ đã chiến thắng các kẻ thù của mình trong suốt cuộc đời.

Thế gian không còn gì để tố cáo linh hồn đó, vì nó đã biết rõ mọi sự dối trá của ma quỷ và từ bỏ mọi sang trọng vui thú thế gian. Tình dục và xác thịt cũng không thể tố cáo nó điều gì vì nó đã lấy dây cương của lý trí để bắt tính dục làm tôi mọi, và đã hãm dẹp yên xác thịt bằng những việc đền tội, những đêm canh thức và những lời cầu nguyện khiêm nhường liên lỉ. Nó đã chôn vùi ý muốn tính dục bằng sự ghét bỏ nết xấu và yêu mến nhân đức, nhất là nó đã triệt căn sự yêu chiều thân xác mình. Chính sự yêu chuộng và vuốt ve mà linh hồn tự nhiên có đối với thân xác, làm cho cái chết trở nên khiếp sợ, và con người tự nhiên không muốn chết.

Nơi người công chính hoàn thiện, nhân đức đã thắng bẩm tính tự nhiên, đã diệt được sự sợ hãi cái chết bằng một sự chê ghét thánh thiện, và hằng ao ước trở về cùng đích mình. Sự yêu chiều tự nhiên không thể tấn công họ, và lương tâm được bình an, vì trong suốt cuộc đời họ đã làm tốt công tác bảo vệ, đã sủa cảnh báo mỗi khi xuất hiện một kẻ thù toan tính tấn công thành trì của linh hồn. Như con chó nằm ngoài cửa luôn sủa vang lên khi thấy kẻ gian, hầu đánh thức những người canh gác, thì con chó của lương tâm cũng báo động cho lý trí; và cùng với ý chí tự do, lý trí nhờ ánh sáng của trí tuệ mà nhận ra đó là bạn hữu hay kẻ gian.

Nếu là bạn hữu, tức nhân đức và các tư tưởng thánh thiện, thì lý trí và ý chí tự do sẽ ra nghênh đón một cách niềm nở, ân cần và trìu mến. Nhưng nếu là kẻ thù, tức nết xấu và những tư tưởng xấu, thì họ xua đuổi một cách thẳng tay. Ánh sáng lý trí và cánh tay ý chí tự do được vũ trang với thanh gươm của sự chê ghét và của lòng mến yêu, sẽ đẩy lui những kẻ thù này. Thế nên, khi giờ chết đến, lương tâm họ không bị trách móc, vì đã làm tốt công tác bảo vệ, nên linh hồn họ được bình an.

Tuy nhiên, lúc ấy bởi lòng khiêm nhường, người công chính hiểu rõ hơn giá trị của thời giờ và nhân đức, nên họ cũng tự trách mình đã không sử dụng thời giờ một cách tốt hơn. Nhưng sự đau đớn họ cảm thấy đó không có tính cách u sầu, trái lại sẽ giúp ích cho họ. Linh hồn họ hồi tâm, đặt mình trước Máu Thánh Con Cha, Con Chiên không tì vết. Họ không để tâm nhìn vào những công nghiệp quá khứ của mình, vì họ không thể và không muốn trông cậy vào những công nghiệp ấy. Tất cả niềm cậy trông của họ được đặt nơi Máu Thánh Chúa Kitô: ở đó, họ gặp được lòng thương xót của Cha. Bởi vì họ đã sống trong sự tôn sùng và tưởng niệm Máu Thánh, nay họ càng muốn được say sưa Máu Thánh này, và đắm mình trong đó cho đến hơi thở cuối cùng.

Còn ma quỷ? Làm sao người công chính có thể sợ ma quỷ tố cáo về tội lỗi, bởi vì trong cuộc đời, họ đã chiến thắng ma quỷ một cách khôn ngoan. Tuy nhiên, ma quỷ cũng tới để xem có thể kiếm được chút thắng lợi nào chăng.

Chúng lấy những hình dáng ghê rợn, gợi lên những cảnh tượng xấu xa để làm cho linh hồn khiếp sợ. Nhưng vì linh hồn họ trong sạch, không vương chút nọc độc của tội lỗi, cho nên những hình ảnh không làm cho họ sợ hãi, như vốn xảy ra cho các kẻ sống theo thói thế gian. Bởi vậy, khi ma quỷ thấy linh hồn tốt lành này ẩn mình trong Máu Thánh Con Cha với lòng mến yêu nồng nhiệt, chúng thất bại rút lui, và từ xa bắn vài ba mũi tên cho bõ ghét.

Những sự tấn công và những tiếng la hét của ma quỷ không làm cho người công chính hoảng sợ, vì như Cha đã nói với con ở một chỗ khác, họ đã bắt đầu được nếm sự sống vĩnh cửu. Được soi sáng bởi ánh sáng đức tin, mắt trí tuệ họ ngắm nhìn Cha là Thiên Chúa hằng hữu, và linh hồn họ trông đợi được hưởng kiến Cha, không do công trạng của họ, nhưng do ân sủng của Cha. Họ đưa những cánh tay của đức cậy hướng lên hạnh phúc này, họ ôm lấy bằng những bàn tay của lòng yêu mến, và bắt đầu hưởng hạnh phúc vĩnh cửu trước khi bước vào, như Cha đã giải thích cho con.

Rồi bỗng, chỉ trong giây lát, linh hồn được tắm gội trong Máu Thánh, nó bước qua cửa của Ngôi Lời để đi vào tới Cha là Đại Dương bình an. Cửa và Đại Dương kết hợp thành một, vì Cha và Đấng Chân Lý của Cha, Con Một Cha, Chúng Ta là một. Linh hồn tràn ngập hoan lạc khi nó thấy mình nhẹ nhàng tới chỗ vượt qua này, để vào hưởng hạnh phúc cùng các thần thánh.

Tất cả những ai chết êm ái như thế đều được hưởng hạnh phúc bất diệt, nhất là các thừa tác viên của Cha, những người mà Cha đã nói với con là họ sống như những thiên thần; bởi vì ngay ở đời này, họ đã có một tri thức rõ ràng và một sự ước ao mạnh mẽ hơn, đối với vinh quang của Cha và ơn cứu độ các linh hồn. Không những họ đã có ánh sáng của nhân đức mà hết mọi người có thể có, và ngoài ánh sáng siêu nhiên của đời sống đạo đức ấy, họ còn có ánh sáng của tri thức thánh, giúp họ hiểu chân lý của Cha hơn. Mà người ta càng biết thì càng yêu mến, và càng mến thì càng nhận được nhiều. Mức độ của lòng mến của các con, là mức độ công trạng của các con (Xc Mt 7:2).

Nếu con hỏi Cha: kẻ không có tri thức ấy có thể đạt tới tình yêu đó không? Chắc chắn là có thể, nhưng đó là ngoại lệ, là trường hợp ngoại lệ thì không được kể là luật chung cho mọi người. Ở đây, Cha đang nói với con về luật chung.

Hơn nữa, do chức linh mục của mình, các thừa tác viên của Cha sẽ nhận được phần thưởng có giá trị lớn hơn. Nhiệm vụ đặc biệt của họ là lo cho ơn cứu độ các linh hồn, vì vinh quang Cha. Quả nhiên, mỗi người và mọi người phải tuân giữ giới răn yêu thương tha nhân, nhưng riêng các thừa tác viên của Cha, đã được trao nhiệm vụ coi sóc các linh hồn và ban phát Máu Con Cha cho chúng. Nếu họ chu toàn bổn phận này cách nhiệt tình và vì lòng yêu mến nhân đức, họ lẽ nhận lãnh nhiều hơn những người khác.

Ôi, hạnh phúc thay linh hồn của những linh mục công chính, khi giờ chết đến! Suốt cuộc đời, họ là những tông đồ và là những người bảo vệ đức tin cho tha nhân. Đức tin đã thấm nhập vào tận xương tuỷ linh hồn họ, để thế đức tin cho họ thấy chỗ đứng của họ trong tình thương của Cha.

Đức cậy, đã nâng đỡ họ trong cuộc đời, mà đức cậy thì chỉ cậy dựa vào sự quan phòng của Cha. Họ không tin tưởng vào bản thân họ, không tin cậy vào học thức của mình. Và bởi vì họ đã giũ sạch mọi cậy trông vào bản thân, nên họ không quyến luyến một tạo vật nào cách vô lối. Họ tình nguyện sống khó nghèo, để gỡ mình ra khỏi mọi sự thế gian, để dễ dàng mở rộng niềm cậy trông ở Cha mà thôi. Trái tim của họ là một chiếc bình đầy đức ái nồng nàn, mang tên Cha và loan báo tên Cha cho tha nhân bằng gương sáng của một cuộc đời tốt lành và thánh thiện, cũng như bằng những lời giảng dạy.

Vào giờ đó, trái tim họ hướng về Cha với một tấm lòng mến yêu tha thiết: họ ôm chặt lấy Cha bằng tất cả sức lực của họ, vì Cha là cùng đích. Họ dâng lên Cha viên ngọc của sự công chính mà họ luôn mang trong mình, vì luôn trung thành trả cho mỗi người những gì họ phải trả. Trong sự khiêm nhường, họ trả cho Cha sự công chính mà Cha có quyền đòi ở họ. Họ trả cho Cha danh dự với uy quyền bằng cách công bố rằng: chính nhờ ân sủng của Cha, mà họ đã trải qua được một cuộc sống trong sạch và thánh thiện, điều mà họ biết họ không đáng được.

Lương tâm họ chứng giám tốt cho họ (Xc Rm 9:1), và vì công lao đã làm, Cha sẽ ban cho họ triều thiên công chính (Xc 2Tm 4:8), nạm đầy những viên ngọc quý là những việc lành phúc đức, mà đức ái đã giúp họ thực thi các nhân đức. Ôi! Những thiên thần của trái đất! Chúng con thật diễm phúc, vì đã không vô ơn bội nghĩa đối với những hồng ân Cha ban, chúng con đã không cất giấu hay coi thường các hồng ân đó! Được soi sáng bởi ánh sáng chân thật, chúng con đã luôn ân cần để mắt trông coi các kẻ được trao phó cho. Hỡi những mục tử trung tín và anh dũng, đã vâng theo giáo lý của Mục Tử nhân lành và đích thực, Đức Giêsu Kitô, Con Một Cha. Chính nhờ Ngài mà các con đến được với Cha, các con được tắm gội Máu Thánh Ngài, cùng với đàn chiên của các con mà một số lớn đã được dẫn tới sự sống đời đời, nhờ giáo lý thánh thiện và gương sáng của các con; và nay các con để lại ở trần gian nhiều con chiên trong tình trạng ân sủng.

Con rất yêu dấu của Cha, tại sao những linh hồn lành thánh ấy không sợ hãi khi nhìn thấy ma quỷ? Bởi vì họ nhìn vào Cha bằng đức tin và chiếm được Cha bằng đức ái; nơi họ không có sự thối nát, không tội lỗi; cho nên những tối tăm, những sợ hãi về cuộc vượt qua cuối cùng này sẽ không làm họ hoảng sợ; bởi vì họ không có sự sợ hãi kiểu nô lệ, mọi sự đều thánh thiện trong sự kính sợ. Họ không sợ những cạm bẫy của ma quỷ, bởi vì nhờ có ánh sáng siêu nhiên và ánh sáng của Thánh Kinh, họ đã thấy rõ những mưu mô của nó. Bởi vậy, linh hồn họ không bị lu mờ cũng không hề bị rối loạn.

Họ chết cách vinh hiển, tắm gội trong Máu Thánh, với tâm hồn nồng nàn ước ao ơn cứu độ các linh hồn, và cháy lửa yêu thương tha nhân. Họ đi qua cửa của Ngôi Lời, bước vào tới Cha, và lòng nhân hậu Cha ban cho mỗi mục tử đó, một chỗ ở xứng đáng theo cấp độ đức ái, mà họ đã đối với Cha.

Về cái chết của những mục tử tội lỗi, và về những đau đớn của họ trong giờ phút này.

  1. Con rất yêu dấu của Cha, hạnh phúc của những thừa tác viên trung thành của Cha thật lớn lao, không còn nghi ngờ gì nữa; nhưng cái khốn cùng của các kẻ bất trung và vô phúc, mà Cha đã nói với con, còn lớn lao hơn nhiều. Sự chết của họ thật là khủng khiếp và tối tăm. Như Cha đã nói với con: vào giờ phút sau hết này, ma quỷ dùng những lời tố cáo để làm họ kinh hoàng, và gây rối loạn trong tâm trí họ. ma quỷ hiện ra dưới hình ảnh khiếp sợ, đến nỗi người ta thà chịu mọi khổ hình ở đời này, chẳng thà nhìn thấy ma quỷ lúc ấy.

Khi đó, lương tâm bắt đầu cắn rứt kẻ tội lỗi trong tâm can thẳm sâu của nó. Những khoái lạc trác táng cùng dục tình của nó vốn thống trị nó và bắt lý trí làm tôi mọi, nay tất cả đứng lên tố cáo nó một cách không nương nhẹ, còn nó thì vào giờ này thấy rõ sự thật mà nó đã phủ nhận trước kia. Nó cảm thấy mình sai lầm và rất xấu hổ. Nó nhận ra trong suốt cuộc đời đã sống như một kẻ không có đức tin, bởi vì tính tự ái đã làm con ngươi của đức tin lu mờ. Và ma quỷ ở sẵn đấy, để tấn công nó, khiến nó nghĩ tới sự bất trung của nó, muốn đẩy nó vào chỗ tuyệt vọng.

Ôi, cuộc chiến đấu cam go chừng nào! Kẻ có tội tay không, không vũ khí, vì nó đã đánh mất thanh gươm của đức ái, vì nó đã trở thành chân tay của ma quỷ. Nó cũng không có ánh sáng siêu nhiên, không có sự sáng của tri thức, nó không hiểu biết gì hết, vì tính kiêu ngạo không cho nó hiểu ý nghĩa cũng như không cho nó thưởng thức sự ngọt ngào của tri thức. Bởi vậy, khi tới giờ của trận chiến sau cùng này, nó bó tay không biết làm gì hơn.

Nó đã không được nuôi dưỡng bằng đức cậy, vì nó đã không trông cậy Cha, cũng không trông cậy Máu Thánh mà Cha đã đã nó làm thừa tác viên: nó đã đem tất cả niềm cậy trông vào bản thân, vào danh vọng và lạc thú thế gian. Kẻ bội phản, nô lệ của ma quỷ, không biết rằng: tất cả những gì nó có, đều là cho nó vay mượn, và nó sẽ phải trả lẽ với Cha. Bởi vậy, giờ đây nó thấy mình cô đơn, trần truồng, không có một nhân đức nào hết: nó quay về phía nào cũng chỉ nghe những lời trách mắng, chỉ thấy những điều làm nó phải xấu hổ.

Con người cả đời đã sống bất chính, thì nay sự bất chính tố cáo nó trước mặt lương tâm nó, khiến nó mất hết nhuệ khí, không dám xin điều gì khác ngoài sự công minh. Sự sỉ nhục của nó lớn lao, và sự xấu hổ làm nó rối trí đến nỗi nó muốn buông theo tuyệt vọng, nếu suốt đời nó đã không có một chút cậy trông nào vào lòng thương xót của Cha, cho dù sự cậy trông ấy chỉ là một sự càn dỡ. Bởi vì, kẻ không ngừng xúc phạm đến Cha mà cứ cậy dựa vào lòng thương xót của Cha, thì phải nói là càn dỡ.

Nhưng dầu sao, kẻ càn dỡ này cũng còn chút sữa của lòng thương xót! Vào giờ chết, nếu nó nhận tội mình, nếu nó ăn năn và xưng tội thật lòng, nó sẽ được tẩy xoá tội càn dỡ, và không xúc phạm đến Cha nữa, thì lòng thương xót còn nhìn đến nó. Nhờ lòng thương xót này, nếu nó muốn, nó có thể bám lấy cái neo cậy trông. Thiếu điều này, không một kẻ tội lỗi nào thoát khỏi sự thất vọng; nếu thất vọng, nó hết phương cứu độ.

Suốt cuộc đời, chính lòng thương xót của Cha đã giúp nó cậy trông vào ơn tha thứ. Cha không ban cho chúng ơn này để nó cứ xúc phạm đến Cha, nhưng là để dẫn tâm hồn nó đến cùng đức ái, và để nó suy nghĩ về lòng nhân hậu Cha. Chính nó đã sử dụng ơn đó cách ỷ lại và lạm dụng lòng thương xót của Cha. Dầu vậy, Cha vẫn để nó giữ lấy niềm trông cậy ấy, ngõ hầu vào giờ phút sau hết, nó bám vào lòng thương xót của Cha, để khỏi sa xuống hố thất vọng. Bởi vì, thất vọng là tội nặng nhất xúc phạm đến Cha, và là tai ương cho nó hơn bất cứ tội nào khác nó đã phạm trong cuộc đời.

Thật vậy, nó phạm các tội khác là bởi yếu đuối, lại bị tính dục lôi kéo, đôi khi nó cảm thấy hối hận, và nghĩ rằng nhờ hối hận mà được ơn tha thứ. Còn sự thất vọng, lấy đâu ra cái cớ yếu đuối? Cũng không có một thú vui nào lôi cuốn con người được vào tuyệt vọng, ngược lại chỉ vì một sự đau khổ không kham nổi. Tuyệt vọng cũng là sự khinh chê lòng thương xót của Cha: kẻ tội lỗi tưởng tội của nó lớn hơn lòng thương xót và lòng nhân hậu của Cha! Một khi đã rơi vào tuyệt vọng, không còn hối hận nữa, không đau đớn vì đã xúc phạm đến Cha nữa. Nó chỉ khóc lóc vì sự bất hạnh, chứ không phải vì đã xúc phạm đến Cha. Thế nên, nó sẽ phải tiêu vong.

Đây là tội duy nhất, như con thấy rõ, đưa con người xuống hoả ngục, là nơi nó bị trừng phạt cùng lúc vì tội này và các tội khác. Nếu như nó đau đớn, hối hận vì phạm đến Cha, nếu nó cậy trông vào lòng thương xót của Cha, nó đã nhận được ơn tha thứ. Bởi vì, như Cha đã nói với con, lòng thương xót của Cha vô cùng lớn lao hơn tất cả mọi tội lỗi, mà các tạo vật có thể phạm. Bởi vậy, tội nặng nề nhất mà người ta có thể xúc phạm đến Cha, là cho rằng tội của tạo vật lớn hơn lòng thương xót của Cha. Đó là tội không được tha ở đời này cũng như ở đời sau (Xc Mt 12:32).

Vì Cha rất gớm ghét sự ngã lòng trông cậy, nên Cha muốn kẻ tội lỗi hãy cậy trông vào lòng thương xót của Cha. Chính bởi vậy mà trong cuộc đời của nó, Cha đã sử dụng kế hoạch nhân từ đối với nó, là đã để nó trông cậy cách càn dỡ vào lòng thương xót của Cha. Cái thói cậy trông như thế sẽ giúp nó đôi chút xu hướng trông cậy vào giờ chết, giữa những cuộc chiến đấu nó sẽ gặp phải vào lúc đó. Ơn này hoàn toàn chỉ là tình thương của đức ái nồng nhiệt và khôn lường của Cha. Nhưng, vì con người đã nhận lấy và sử dụng ơn này theo sự xúi bẩy của lòng tự ái: do đó mà sinh ra mọi tối tăm, và thực sự nó đã không hiểu biết gì về lòng thương xót của Cha. Vì thế, Cha có thể coi sự trông cậy đó chỉ là một sự tự cao tự phụ.

Đó là điều thứ hai mà lương tâm trách móc nó trước mặt ma quỷ. Nó đã cậy dựa vào thời gian, cậy dựa vào sự quảng đại của lòng thương xót Cha, đáng lẽ là để thuận theo ý muốn Cha, yêu mến Cha và tập tành các nhân đức. Nhưng nó đã dùng thời gian này, đã cậy dựa vào lòng thương xót của Cha, để không ngừng xúcphạm đến Cha một cách càn dỡ.

Ôi, kẻ mù quáng đến đui mù! Ngươi đã chôn viên ngọc và nén bạc Ta đặt vào tay ngươi để ngươi sinh lời. Trong sự càn dỡ của ngươi, ngươi đã từ chối làm theo ý Ta, ngươi đã chôn vùi hồng ân của Ta dưới đáy lòng tự ái của ngươi; nó đã sinh hoa trái, và giờ đây ngươi hái được những trái cây của sự chết (Xc Mt 25:14- 30). Hỡi kẻ hư đốn! Biết bao khốn khổ trút xuống trên ngươi vào giờ sau hết này! Ngươi không thể nhắm mắt trước sự ngu dại của ngươi. Con sâu của lương tâm không ngủ yên nữa, ngươi cảm thấy nó cắn rứt ngươi (Xc Is 66:24; Mc 9:43- 48). Lũ quỷ la hét tố cáo ngươi, chúng mang đến cho ngươi cái phần thưởng dành cho ngươi, vì đã trung thành làm tôi chúng; đó là sự xấu hổ và những lời trách móc. Để ngươi không thể nào thoát khỏi tay chúng vào giờ chết, chúng sẽ gieo vào tâm hồn ngươi sự rối loạn, hầu đẩy ngươi vào chỗ thất vọng, để ngươi chia sẻ số phận với chúng trong lửa hoả ngục.

Ôi, kẻ bất trung bất tín! Tước vị mà Ta đã đặt ngươi lên, bây giờ ngươi mới nhận thấy nó cao trọng dường nào. Cái nhìn này bắt ngươi nhận ra trong sự xấu hổ: ngươi đã biển thủ và tiêu xài tài sản của Hội Thánh vào việc tội lỗi của ngươi. Bây giờ ngươi thấy ngươi đã ăn cắp và giữ cho mình những của cải ngươi phải trả cho người nghèo và cho Hội Thánh. Lương tâm ngươi đã dùng tiền của đó để làm quà tặng cho những đàn bà tội lỗi, để nuôi dưỡng con cái không chính thức, để làm giàu cho bà con họ hàng ngươi. Ngươi đã phung phí tiền của đó vào việc ăn uống, để trang trí nhà cửa, để sắm những chén dĩa bằng bạc, trong khi lẽ ra ngươi phải tự nguyện sống khó khăn thanh bần.

Lương tâm ngươi còn trách ngươi đã dễ dàng bỏ qua việc đọc Giờ Kinh phụng vụ, mà không nhớ rằng ngươi đã phạm tội trọng mỗi khi vì lười biếng mà bỏ đọc.Ngươi hãy nhớ lại những khi chỉ đọc bằng miệng, nhưng lòng thì ở xa Ta (Xc Is 29:13; Mt 15:8). Còn những linh hồn được trao phó cho ngươi, ngươi có bổn phận giáo dục chúng về đường nhân đức, bằng gương sáng đời sống thánh thiện, uốn nắn chúng bằng bàn tay thương xót và sửa dạy chúng bằng cái roi của sự công chính. Nhưng ngươi đã làm ngược lại. Lương tâm ngươi tố cáo ngươi về điều này trước sự có mặt dữ tợn của ma quỷ.

Còn ngươi là người có quyền cao chức trọng trong Hội Thánh; ngươi đã ban chức tước và trao chức vụ cho những kẻ bất xứng mà vẫn an tâm, nay lương tâm của ngươi tố cáo ngươi về tội đó. Lẽ ra ngươi không được để mình chiều theo những lời nịnh bợ, không xiêu lòng vì những quà tặng, và đừng lo làm đẹp lòng người thế gian; lẽ ra ngươi chỉ nên nhìn vào nhân đức, nhìn vào danh dự và vinh quang của Ta cùng ơn cứu độ các linh hồn. Ngươi đã không làm như vậy; nay lương tâm tố cáo ngươi, lên án ngươi, làm ngươi phải thẹn thùng xấu hổ. Trong ánh sáng của trí tuệ, lương tâm ngươi nói cho ngươi biết những gì đáng lẽ ngươi không nên làm thì ngươi đã làm, và ngươi đã không làm những gì đáng lẽ ra ngươi phải làm.

Con rất yêu dấu của Cha, người ta thấy rõ màu trắng khi đặt bên cạnh màu đen, và màu đen khi đặt cạnh màu trắng, hơn là khi hai màu này cách xa nhau. Sự thể cũng vậy, cho các kẻ vô phúc này, nhất là cho các thừa tác viên của Cha, vào giờ chết, khi linh hồn bắt đầu nhìn thấy sự bất hạnh của mình. Trong khi người công chính cảm thấy hạnh phúc, thì kẻ có tội thấy diễn ra trước mặt cuộc đời tội lỗi của nó. Không cần phải có ai vạch ra cho nó thấy; chính lương tâm đặt nó đối diện với những tội lỗi nó đã phạm và những nhân đức mà lẽ ra nó phải thực thi. Tại sao nhắc tới các nhân đức? Là để cho có sự tương phản khi đặt nết xấu bên cạnh nhân đức, nhân đức sẽ cho thấy rõ nết xấu hơn, và kẻ có tội cũng nhìn rõ nết xấu hơn để nó phải xấu hổ hơn. Vả lại, sự biết rõ tội lỗi mình sẽ làm nó hiểu được sự tốt lành của nhân đức; khi nhìn lại cuộc đời, nó thấy trống rỗng không có việc lành phúc đức, nó mới cảm nhận một sự đau đớn và nhục nhã sâu đậm.

Nhận thức như thế về nhân đức và về nết xấu, kẻ tội lỗi biết rõ hạnh phúc dành cho người nhân đức và hình phạt chờ sẵn kẻ có tội, chìm đắm trong tối tăm của tội trọng. Chính Cha đã cho nó nhận thức chính xác như thế về mọi sự, không phải để đẩy nó vào chỗ thất vọng, nhưng là để nó có một nhận biết đầy đủ hơn về bản thân nó, và để nó có một sự xấu hổ về các tội lỗi của nó; tuy vậy, vẫn còn pha đôi chút cậy trông vào ý định của Cha, là dùng sự xấu hổ và sự nhận biết này để dẫn đưa nó tới việc thú nhận tội lỗi, và để nó làm nguôi cơn giận của Cha, bằng cách khiêm nhường van xin ơn tha thứ.

Vào lúc đó, những người công chính cảm thấy một niềm vui lớn lao trong tình thương vô biên của Cha. Nếu họ đã vững tâm trên đường nhân đức, và vâng theo Đấng Chân Lý của Cha, thì tất cả là hồng ân của Cha, chứ không phải công lênh gì của họ. Dưới ánh sáng và trong tâm tình này, họ nhảy mừng trong Cha như được nếm trước hạnh phúc đang đến gần (Xc số 41).

Như vậy, người công chính đã sống trong đức ái nồng nhiệt thì tràn đầy niềm vui, còn kẻ tội lỗi phải chìm đắm trong nhục nhã. Người công chính không nao núng khi nhìn thấy ma quỷ, cũng như những khiêu khích của nó; người công chính chỉ sợ một điều ở đời này, cũng như chỉ có một sự có thể làm họ đau khổ, là tội lỗi. Còn những người cả đời buông theo tội lỗi và sống truỵ lạc, chúng khiếp sợ ma quỷ, vì biết nó là một khổ hình cho chúng. Tuy nhiên, chúng không thể bị ma quỷ đẩy vào chỗ tuyệt vọng, nếu chúng không muốn, nhưng chúng phải chịu những lời chế nhạo và nguyền rủa của ma quỷ như một hình phạt, lương tâm cũng thức dậy và kinh hoàng sợ hãi trước sự có mặt của quỷ dữ.

Con rất yêu dấu, con thấy rõ sự khác biệt giữa người công chính và kẻ tội lỗi trong giờ phút của sự chết, khác biệt cả về những cuộc tấn công của ma quỷ. Và sự kết thúc cuộc đời của họ khác biệt nhau dường nào! Mà Cha mới chỉ kể cho con nghe một phần rất nhỏ thôi. Những gì Cha đã tỏ cho con biết về sự thật này thì quá ít, và có thể nói như chưa nói gì hết.

Thật người ta mù quáng quá đỗi, nhất là những thừa tác viên bất trung này! Họ càng nhận được nhiều ơn, càng được Thánh Kinh soi sáng, họ càng có bổn phận, thì sự xấu hổ nhục nhã của họ sẽ càng lớn lao. Trong cuộc đời, càng thông hiểu Thánh Kinh, thì vào giờ chết càng thấy rõ tội trọng đã phạm. Bởi đấy, họ sẽ phải chịu những cực hình nặng nề hơn những người khác; cũng như về phía mình, các kẻ lành sẽ được hưởng vinh quang lớn hơn.

Cũng thế trong hoả ngục, một Kitô hữu xấu sẽ chịu hình phạt nặng hơn một người tà giáo, vì nó đã có đức tin mà không sống theo ánh sáng đức tin, còn kẻ theo tà giáo thì không bao giờ được ánh sáng đó. Các linh mục bất trung này cũng vậy, vì cùng một tội phạm, họ sẽ phải chịu trừng phạt nặng hơn các Kitô hữu khác, vì thừa tác vụ mà Cha đã trao cho là ban phát Mặt Trời Thánh Thể, và bởi vì họ có ánh sáng của tri thức để hiểu biết sự thật cho mình và cho kẻ khác, nếu họ muốn. Cho nên, họ chịu hình phạt nặng nề hơn là phải lẽ.

Ôi, những kẻ bất trung! Nếu họ suy nghĩ về bậc cao trọng của họ, chắc họ sẽ không sa vào cái cảnh khốn nạn này! Họ sẽ sống như đáng lý phải sống, chứ không như hiện nay. Cả thế giới đã ra hư hỏng, vì họ đã ra xấu xa hơn người đời. Họ không chỉ làm hư hỏng bộ mặt linh hồn mình bằng những tội dâm ô, họ còn đầu độc những linh hồn được trao phó cho họ. Họ hút máu của Hiền Thê Con Cha là Hội Thánh, bộ mặt Hội Thánh đã ra xanh xao và lem luốc vì tội lỗi họ. Lòng yêu mến và chăm sóc lẽ ra chúng phải dành cho Hiền Thê của Con Cha, thì chúng chỉ lo nghĩ đến bản thân chúng: họ phản bội Hội Thánh; đáng lẽ họ phải nhiệt tình lo cho các linh hồn, nhưng họ chỉ đam mê chức tước và bổng lộc lớn. Do đời sống xấu xa của họ, họ khiến người đời khinh chê và bất tuân lời dạy của Hội Thánh. Sự khinh chê và bất tuân phục này không phải vì thế mà không mắc tội: tội lỗi của người đời không thể vì các thừa tác viên xấu mà được bỏ qua.

Tóm tắt những gì đã nói trên đây. Thiên Chúa cấm người đời đụng đến các linh mục của Ngài. Ngài mời gọi linh hồn này hãy khóc thương những linh mục sa ngã.

  1. Cha còn có thể cho con biết nhiều nết xấu khác nữa, nhưng Cha không muốn làm cho tai con phải khổ lâu hơn. Cha đã kể cho con nghe những điều này, để thoả mãn sự ước ao của con và để thúc giục con thêm nhiệt tình dâng lên Cha những ước nguyện âu yếm, dịu dàng và cay đắng của lòng mến yêu của Cha đã nói cho con về tước vị cao trọng Cha đã mặc cho các thừa tác viên của Cha, và kho tàng châu báu Cha đã đặt vào tay họ để phân phát cho các con, đó là nhiệm tích Con Cha, vừa là Thiên Chúa thật, vừa là Người thật, mà Cha đã so sánh với Mặt Trời, để con hiểu tội lỗi của họ không làm mất đi thần lực của bí tích. Và Cha cũng muốn người ta đừng quên rằng: những tội lỗi đó không làm suy giảm sự trọng kính phải dành cho họ. Rồi Cha đã cho con thấy sự tốt lành tuyệt vời của những thừa tác viên trung thành của Cha, nơi họ sáng ngời viên ngọc của nhân đức và sự công chính.

Sau đó, Cha đã cho con nhìn thấy những kẻ bách hại Giáo Hội họ đã xúc phạm đến Cha, họ đã khinh chê Máu Thánh Con Cha. Những gì người ta làm chống lại các thừa tác viên của Cha, Cha coi như xúc phạm đến Máu Thánh. Bởi vậy, Cha đã cấm không ai được đụng đến các người Cha đã xức dầu tấn phong (Xc Tv 105:15). Cha cũng đã nêu lên cuộc đời tội lỗi, những chuyện vô luân của họ, cùng những hình phạt và sự xấu hổ chờ đợi họ vào giờ chết, những cực hình ghê sợ dành cho họ hơn các kẻ khác, ở đời sau. Như vậy, Cha đã kể cho con nghe về đời sống của họ, theo như Cha đã hứa với con.

Cha nói lại với con một lần nữa, dầu tội của họ nặng nề đến đâu, hay có nặng nề hơn nữa, Cha không muốn người đời tự cho mình có quyền trừng phạt họ. Những ai dám làm điều đó, tội của chúng sẽ bị trừng trị, nếu chúng không thật lòng hối cải và không sửa mình. Cả hai thứ người này, những thừa tác viên xấu và những kẻ bách hại họ đều là những con cái ma quỷ. Chính sự công minh của Cha để cho chúng chống đối nhau và sát phạt nhau. Nhưng tội của người đời không phải là lý do để bào chữa cho các mục tử khỏi tội, cũng như tội của mục tử không thể biện hộ chính cho tội của người đời.

Bây giờ, hỡi con yêu dấu, Cha kêu mời tất cả các con, con và các tôi tớ khác của Cha, hãy khóc thương nhữngkẻ đã chết đó. Các con hãy sống như những con chiên trung thành trong vườn nho Hội Thánh, hãy bổ dưỡng mình bằng những ước ao thánh thiện và những lời cầu nguyện liên tục dâng lên Cha, để cầu xin cho họ. Bởi vì, Cha muốn tỏ lòng thương xót thế gian. Chúng con đừng bao giờ xao lãng việc này, khi bị bách hại cũng như khi được an lành. Hãy ăn luôn mãi trong đồng cỏ này, đừng bao giờ để cơn thử thách hay những niềm vui hỗn loạn làm các con ngẩng đầu lên. Các con hãy khiêm nhường chăm lo làm rạng rỡ danh Cha, cứu vớt các linh hồn và cải tạo Hội Thánh. Đó là dấu chỉ các con yêu mến Cha thật sự. Cha đã tỏ cho con biết Thánh ý Cha, là con và những người khác hãy sống như những con chiên trung thành, luôn ăn cỏ trong vườn Hội Thánh, chịu đựng tất cả mọi nhọc nhằn, cho đến giờ chết. Vậy, con hãy làm điều đó, về phần Cha, Cha sẽ thoả mãn mọi ước nguyện của con.

Linh hồn này hãy ngợi khen và cảm tạ Thiên Chúa và cầu xin cho Hội Thánh.

  1. Khi đó, linh hồn này say sưa, thao thức và bốc lửa tình yêu, trái tim như bị thương tích vì một nỗi đau đớn lớn lao, đã hướng mắt nhìn lên Đấng Nhân Hậu cao cả muôn đời, và thưa rằng: Lạy Thiên Chúa Đấng Hằng Hữu; ôi, Ánh Sáng trên hết mọi sự sáng vì là nguồn phát ra mọi ánh sáng! Ôi, Lửa trên hết mọi lửa, Lửa duy nhất thiêu đốt mà không hao mòn tiêu tan! Lửa thiêu huỷ tội lỗi, thiêu huỷ mọi tính tự ái, Lửa không làm tiêu hao linh hồn nhưng bổ dưỡng nó bằng một tình yêu khôn lường; và khi làm cho linh hồn vui thoả, Ngài không làm nó no chán, nên nó mãi ước ao Ngài. Và nó càng ước ao Ngài, nó càng chiếm được Ngài; nó càng tìm kiếm Ngài, nó càng thấy Ngài, càng được nếm Ngài; ôi, Lửa tối cao; ôi, Lửa hằng hữu, vực thẳm đức ái.

Ôi, Đấng Tốt Lành cao cả, Thiên Chúa vô biên hằng hữu, ai đã xui đẩy Ngài soi sáng con, đem con đến ánh sáng chân lý của Ngài; con, tạo vật bé nhỏ của Ngài? Thưa, không ai khác ngoài Ngài; ôi, Lửa tình yêu! Mãi mãi và chỉ có tình yêu đã thúc đẩy và còn thúc đẩy Ngài tác tạo chúng con theo hình ảnh Ngài và giống Ngài, thúc giục Ngài thương xót chúng con, ban cho chúng con vô kể ân sủng và hồng ân. Ôi, Đấng Tốt Lành trên hết mọi sự tốt lành, chỉ mình Ngài vô cùng tốt lành. Trong khi đó, Ngài đã ban Ngôi Lời của Ngài để ở giữa chúng con, va chạm vào bản thể hư nát và tối tăm của chúng con! Đâu là nguyên nhân của hồng ân này? Thưa, đó là tình thương, vì Ngài đã thương yêu chúng con trước khi có chúng con. Ôi, Đấng Vĩ Đại muôn đời! Ôi, sự vĩ đại của Đấng Tốt Lành! Chúa đã hạ mình xuống, đã trở nên thấp bé để cho con người trở thành vĩ đại! Con quay mặt về phía nào, cũng chỉ nhìn thấy vực thẳm và lửa đức ái của Ngài!

Phải chăng con, một kẻ hèn hạ dốt nát, con có thể cảm tạ Ngài vì những ân sủng và vì đức ái nồng nhiệt Ngài đã tỏ ra và luôn tỏ ra cho con với biết bao tình thương, nhất là với riêng con, ngoài đức ái và tình thương thông thường Ngài dành cho mọi tạo vật của Ngài? Thưa, chắc chắn là không, lạy Cha rất nhân từ và rất dịu hiền, chỉ mình Cha có thể cảm tạ thay cho con. Chính tâm tình đức ái của Cha sẽ cảm tạ Cha thay cho con, vì con là thứ hư vô. Nếu con nói con là thứ gì nơi bản thân con, thì đó là con nói dối; nói dối, con chỉ đáng là đứa con gái của ma quỷ, vì quỷ là cha sự gian dối (Xc Ga 8:44,55). Còn Cha, chỉ mình Cha là Đấng Hiện Hữu, và có tất cả mọi ân huệ và ân sủng để trao ban cho con, đã trao ban chỉ vì tình thương và còn trao ban, dầu con bất xứng.

Ôi, Cha rất dịu hiền, khi loài người ngã gục vì thương tích do tội của Ađam, Cha đã gửi Thầy Thuốc đến, đó là Con Cha, Ngôi Lời của Tình Yêu (Xc Mt 9:12; Lc 5:31). Và khi chính bản thân con bị tê liệt, bị suy nhược bởi tính lười biếng và dốt nát, thì Cha như một lương y rất nhân lành và êm ái, đã cho con một liều thuốc êm dịu nhưng cũng cay đắng để chữa lành con. Liều thuốc đó êm dịu, bởi vì, với đức ái của Cha và với sự dịu dàng của Cha, Cha đã tỏ mình ra cho con. Liều thuốc dịu dàng trên hết mọi sự dịu dàng, vì Cha đã soi sáng mắt trí tuệ con bằng ánh sáng đức tin; và, trong ánh sáng này, theo như Cha đã vui lòng giúp con, con đã khám phá ra sự tuyệt diệu của ân sủng mà Cha đã trao ban cho nhân loại, khi Cha ban trọn vẹn con Cha, Thiên Chúa thật và là Người thật, trong nhiệm thể của Hội Thánh. Như vậy, con mới hiểu được bậc cao trọng của các thừa tác viên, được Cha đặt lên để ban phát cho báu này cho chúng con.

Con đã muốn Cha thực hiện những gì Cha đã hứa với con, thì Cha đã ban cho con quá điều con xin, cả những điều con không hay biết để xin. Vâng, bây giờ con hiểu rõ ràng là trái tim con người không thể xin và không thể ước ao nhiều như Cha ban cho nó. Con biết Cha là Sự Thiện vô cùng, hằng hữu, còn chúng con là những thứ không hiện hữu. Cha là Đấng Vô Biên, chúng con thì có cùng: Cha ban những sự mà vật thụ tạo có lý trí của Cha không thể và không biết ước ao. Chỉ mình Cha biết, chỉ mình Cha có thể và muốn thoả mãn linh hồn, cho nó được no thoả bằng tất cả những gì nó đã không biết xin Cha. Và Cha đã làm điều đó thật dịu dàng, êm ái, và dễ thương nữa trong cách Cha ban.

Vậy, con đã được soi sáng bởi ánh sáng của Cha, để hiểu biết sự vĩ đại và đức ái của Cha, hiểu biết tình thương của Cha đối với toàn thể nhân loại, và nhất là đối với những người được xức dầu tấn phong của Cha: họ phải là những thiên thần trên trái đất này. Cha đã tỏ cho con thấy nhân đức và hạnh phúc của những Kitô của Cha, những vị sống trong Hội Thánh như những chiếc đèn cháy sáng, như những viên ngọc của sự công chính. Và nhân đó, con đã hiểu rõ hơn về những lỗi lầm của các kẻ sống bất xứng. Con đã cảm nhận một sự buồn rầu và đắng cay, vì họ đã xúc phạm đến Cha, và vì những tai ương họ gây nên cho toàn thể thế giới. Họ là cớ làm nhiều người phải hư đi, vì trước mặt thế gian họ xuất hiện như tấm gương của nết xấu, trong khi lẽ ra họ phải là tấm gương của nhân đức. Cha đã tỏ cho con thấy những điều xấu xa của họ, mà chính con đây cũng là nguyên nhân và là dụng cụ của biết bao lỗi lầm, cho nên khi con nghe Cha than phiền về tội lỗi của họ, con cũng cảm thấy vô cùng đau đớn.

Ôi, Tình yêu khôn tả! Khi tỏ bày cho con thấy những sự ấy, Cha đã cho con một thứ thuốc vừa êm dịu vừa cay đắng để chữa lành con khỏi mọi bệnh tật, để kéo con ra khỏi chỗ ngu dại và sự hững hờ của lòng con, để hun nóng lòng thiệt thành của con và khiến con phải vội chạy đến với Cha. Khi tỏ cho con thấy lòng nhân hậu của Cha và những đau khổ người ta làm cho Cha, nhất là do các thừa tác viên của Cha, Cha đã muốn con đổ một thác nước mắt xuống trên bản thân tội lỗi khốn nạn của con, và trên những kẻ bất trung kia, họ đang sống một cách rất khốn nạn. Nước mắt của con là nước mắt chảy ra từ sự nhận biết lòng nhân hậu vô cùng của Cha. Vậy, lạy Cha hằng hữu, con không muốn ngưng một phút nào mà không dâng lên những ước nguyện tôn vinh Cha và cứu độ các linh hồn. Con không muốn đôi mắt con ngưng khóc lóc, và con xin Cha ban ơn để cặp mắt này trở nên như hai dòng nước sông chảy ra, từ nơi Cha là Đại Dương bình an!

Cảm tạ, con cảm tạ Cha, lạy Cha, vì Cha đã nhận lời con xin, và đã ban cho con những gì con không biết, những gì con không xin. Khi mang đến cho con một lý do để đổ nước mắt ra, Cha đã mời gọi con dâng lên Cha những ước nguyện tha thiết và nồng nàn, đầy tình mến yêu, cùng với những lời cầu nguyện khiêm nhường và liên lỉ. Vậy giờ đây, con xin Cha hãy tỏ lòng thương xót thế giới và thương xót Hội Thánh của Cha, con nài xin Cha hãy thực hiện những gì mà Cha bảo con phải xin. Ôi thôi, con khốn nạn dường nào! Linh hồn con hết sức đau đớn vì đã là nguyên nhân của tất cả mọi tai hoạ đó. Xin Cha hãy thương xót thế giới, đừng trì hoãn nữa, xin Cha hãy mềm lòng, xin Cha hãy chứng nhận niềm ước nguyện của các tôi tớ Cha!

Than ôi, chẳng phải chính Cha đã xúi giục họ kêu la đó sao? Cha hãy nghe tiếng nài van của họ! Phải chăng Đấng Chân Lý của Cha đã chẳng nói rằng: “Anh em hãy xin thì sẽ được, hãy gõ cửa thì sẽ mở cho” (Lc 11:9). Lạy Thiên Chúa hằng hữu, các tôi tớ Ngài kêu gọi lòng thương xót của Ngài, xin hãy trả lời họ! Con đã biết, lòng thương xót của Ngài thánh thiêng, đến mức độ Ngài không thể từ chối lòng thương xót với những ai kêu xin. Họ gõ cửa Đấng Chân Lý dịu hiền, Con Một Ngài, vì họ biết tình thương khôn lường Ngài đối với con người. Họ gõ cửa, đức ái thần linh bừng lửa cháy, Ngài không bao giờ và không thể từ chối mở ra cho những ai kiên trì gõ cửa.

Vậy, xin Cha hãy mở! Xin hãy gỡ khoá tung ra và đập tan những trái tim chai đá của những tạo vậy này của Cha. Không phải vì chúng là những kẻ không chịu gõ, nhưng vì lòng nhân hậu vô cùng của Cha, và vì lòng mến yêu của các tôi tớ Cha là những kẻ đang gõ, đang van xin thay chúng. Lạy Cha hằng hữu, xin hãy mở cửa ra cho họ! Xin hãy nhìn xem họ đang đứng ở cửa Đấng Chân Lý của Cha và đang kêu xin (Xc Kh 3:20). Họ xin gì? Thưa, họ xin Máu của Chúa Kitô chịu đóng đinh, Con Một Cha, vì Máu Thánh chính là Cửa! Họ muốn Máu Thánh này, trong đó Cha đã rửa sạch muôn vàn tội lỗi và tẩy xoá mọi vết nhơ tội Ađam (Xc Kh 1:5). Máu Thánh là của chúng con, vì Cha đã tắm gội chúng con bằng Máu Thánh này. Cha không thể và Cha không muốn từ chối những ai đến xin Cha. Xin Cha ban hoa trái của Máu Thánh này cho các tạo vật của Cha. Xin Cha hãy đặt giá Máu Con Cha trên cán cân, để các quỷ hoả ngục không thể bắt đi những con chiên của Cha! (Xc Ga 10:11).

Ôi, chính Cha là Mục Tử tối cao đã ban cho chúng con vị Mục Tử nhân lành là Con Một của Cha: theo lời truyền dạy của Cha, Ngài đã thí mạng sống mình vì các chiên của Ngài, và đã tắm rửa chúng trong Máu Thánh của Ngài. Các tôi tớ Cha xin Cha ban cho Máu Thánh này, bởi vì họ gõ cửa với một niềm ước nguyện tha thiết. Vì Máu Thánh, họ nài xin Cha hãy thương xót thế giới và làm cho Hội Thánh lại nở hoa công lý, bằng cách gửi đến những bông hoa thơm ngát, là những mục tử tốt lành và thánh thiện, để mùi thơm họ toả ra sẽ đánh tan mùi hôi thối của những bông hoa xấu xa và hôi thối. Lạy Cha hằng hữu, Cha đã nói: Cha sẽ thương xót các thụ tạo có lý trí của Cha, vì những lời cầu xin, sự cực nhọc của các tôi tớ Cha, và vì những đau khổ họ chịu không phải cho tội mình, mà vì thương xót thế giới và cho sự canh tân Hội Thánh của Cha! Đó là niềm an ủi mà các tôi tớ Cha đang mong chờ (Xc số 15). Vậy, xin Cha hãy nhìn xuống chúng con bằng đôi mắt nhân từ! Xin hãy trả lời chúng con, đừng trì hoãn nữa, vì Cha hằng muốn trả lời chúng con, cả trước khi chúng con kêu cầu Cha! Xin Cha hãy trả lời chúng con đi, bằng tiếng nói của lòng thương xót!

Xin Cha hãy mở cánh cửa tình thương bao la của Cha, tình thương mà Cha đã ban cho chúng con nơi Ngôi Lời của Cha (Xc Ga 10:7). Vâng, con biết Cha đã muốn mở trước khi chúng con đến gõ. Xin Cha hãy mở ra! Chúng con gõ và kêu gọi Cha đây với tất cả tâm tình và tình thương Cha đã ban cho các tôi tớ Cha, họ đầy nhiệt huyết đối với vinh quang của Cha và ơn cứu độ các linh hồn. Xin Cha ban cho họ Bánh hằng sống, hoa trái của Máu Con Một Cha, họ xin Cha để tôn vinh Thánh danh Cha và cho ơn cứu độ các linh hồn. Cứu vớt bằng ấy sinh linh sẽ làm cho Thánh danh Cha được ca tụng, hơn để chúng cứng lòng trong sự cố chấp!

Lạy Cha hằng hữu, Cha làm được hết mọi sự, cho dù Cha đã tạo thành chúng con không cần chúng con, nhưng Cha không muốn cứu chúng con nếu không có chúng con. Nhưng, con xin Cha lật lại ý muốn của họ, là xếp đặt làm sao để họ muốn điều họ không muốn: con xin Cha điều này, vì lòng thương xót vô cùng của Cha. Cha đã tạo thành chúng con từ hư vô, nay chúng con hiện hữu đây, xin Cha thương xót chúng con. Xin Cha sửa lại những chiếc bình mà Cha đã tạo thành, đã khuôn đúc theo hình ảnh Cha và giống Cha. Xin Cha hãy tái tạo họ trong ân sủng, vì lòng thương xót của Cha và vì Máu Con Cha là Chúa Giêsu Kitô dịu hiền (Xc Rm 9:20-23).

Cám ơn sự hỗ trợ, động viên để duy trì và phát triển website. Mọi đóng góp xin gửi về:
Người nhận: Hoàng Nhật Minh
Số tài khoản: 103873878411
Ngân hàng: VietinBank

Bài Trước Đó Bài Tiếp Theo

Thư Viện Sách NóiTủ Sách Tâm Linh